vanban.org

Bản án 1075/2022/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lê Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn P và đồng phạm - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 1075/2022/HSPT
Ngày: 15-12-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Thị Thanh Huyền

2. Ông Trần Đức Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh B, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 682/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 106/2022/HSST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Lê Văn P, sinh năm 1972.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa: Lớp 3/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh K (bị cáo khai tại phiên tòa: ông Lê Minh K chết năm 2016) và bà Nguyễn Thị T; có vợ Nguyễn Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Danh chỉ bản số 000000131 lập ngày 25/3/2022 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 25/3/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973.

ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn T1, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không có nghề nghiệp ổn định; trình độ văn hóa: Lớp 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị V (bị cáo khai tại phiên tòa: Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị V đều đã chết); có vợ Ngô Thị Thu L và 02 con (con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2000); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 663/2012/HSPT ngày 15/6/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ra trại ngày 09/02/2015 (đã xóa án tích).

Danh chỉ bản số 000000134 lập ngày 25/3/2022 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 25/3/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 19/3/2022, Lê Văn P rủ bạn đến trang trại chăn nuôi của P ở thôn T1, xã T, huyện T để ăn cơm. Đến khoảng 22 giờ, sau khi ăn cơm xong thì Nguyễn Văn Q, Lê Hồng C, Ngô Hoàng L, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Đình C2 và Lê Văn P thấy 01 bộ bài Tú lơ khơ nên rủ nhau đánh bạc ăn tiền dưới hình thức chơi ba cây. Còn Trần Văn B, Nguyễn Tiến C, Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Quang T4 nhìn thấy 01 bộ bài chắn và 01 đĩa sứ nên rủ nhau đánh chắn sát phạt nhau bằng tiền. Quá trình đánh bạc, không có ai canh gác, không có ai thu tiền hồ.

Tại chiếu thứ nhất: Nguyễn Văn Q, Lê Hồng C, Ngô Hoàng L, Nguyễn Quốc T3, Nguyễn Đình C2 và Lê Văn P thống nhất cách chơi ba cây như sau: Sử dụng 01 bộ bài Tú lơ khơ có sẵn 36 quân gồm các quân từ Át, 2, 3 ..9 chia cho mỗi người chơi được 03 quân bài cộng điểm lại với nhau, thang điểm từ 01 đến 10, nếu ai nhiều điểm hơn so với người cầm cái thì sẽ thắng bằng số tiền đặt cược, và ngược lại. Nếu số điểm bằng nhau thì tính theo chất rô, cơ, bích, tép để phân định thắng thua. Nếu ai được 10 điểm thì nhân đôi số tiền đặt cược, được 03 lá bài bằng nhau thì được nhân ba số tiền đặt cược. Ai được 10 điểm và nhất sẽ được thay người cầm chương. Mỗi người chơi đặt cược ít nhất là 50.000 đồng, cao nhất 200.000 đồng.

Tại chiếu bạc thứ hai: Trần Văn B, Nguyễn Tiến C, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Quang T4 thống nhất cách chơi chắn dưới hình thức ù xuông 10.000 đồng, dịch 5.000 đồng.

Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 20/3/2022 thì bị Tổ công tác Đội hình sự - Công an huyện T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc thứ nhất số tiền 8.900.000 đồng, 01 bộ Tú lơ khơ 36 quân bài (đã bỏ 10, J, Q, K); thu giữ tại chiếu bạc thứ hai số tiền 2.520.000 đồng, 01 đĩa sứ và 01 bộ bài chắn 100 cây. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng trên cùng tang vật về trụ sở Công an để giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Lê Văn P khai sử dụng khoảng 1.550.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, P đang thắng số tiền 1.250.000 đồng. Nguyễn Văn Q khai sử dụng khoảng 2.100.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt Q đang thắng số tiền 100.000 đồng. Lê Hồng C khai sử dụng 1.000.000 đồng vay của T3 để đánh bạc. Khi bị bắt C đang thắng số tiền 450.000 đồng. Ngô Hoàng L khai sử dụng khoảng 2.200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt L đang thua số tiền 1.400.000 đồng. Nguyễn Quốc T3 khai sử dụng 1.350.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt T3 đang thua số tiền 500.000 đồng. Nguyễn Đình C2 khai sử dụng khoảng 700.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt C2 đang thắng số tiền 300.000 đồng. Trần Văn B khai sử dụng khoảng 800.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt B đang thắng số tiền 400.000 đồng. Nguyễn Tiến C khai sử dụng khoảng 600.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt C đang thua số tiền 560.000 đồng. Nguyễn Ngọc D khai sử dụng khoảng 220.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt D đang thắng số tiền 500.000 đồng. Nguyễn Quang T4 khai sử dụng khoảng 900.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt T4 đang thua số tiền 340.000 đồng.

Đối với Trần Văn B, Nguyễn Tiến C, Nguyễn Ngọc D và Nguyễn Quang T4 đều chưa có tiền án, tiền sự, tổng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên Cơ quan cảnh sát điều tra ra Quyết định xử phạt hành chính đối với 04 đối tượng trên.

Tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKS-TT ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Văn P, Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cáo trạng còn truy tố 04 bị cáo khác theo quy định của pháp luật.

Bản án hình sự sơ thẩm số 106/2022/HSST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 25/3/2022.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 25/3/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về điều luật, tội danh và mức hình phạt đối với 04 bị cáo khác; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 28/7/2022 và ngày 04/8/2022, bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q lần lượt có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Lê Văn P, Nguyễn Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp, tương xứng với nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 00 phút ngày 19/3/2022 đến 00 giờ 30 phút ngày 20/3/2022, tại trang trại chăn nuôi của Lê Văn P ở thôn T1, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Lê Văn P, Nguyễn Văn Q và 04 đối tượng khác đã có hành vi sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi ba cây, với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc được xác định là 8.900.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Tệ nạn cờ bạc cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có thiếu sót.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới, tuy nhiên, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, số tiền đánh bạc không nhiều; bị cáo Lê Văn P chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo Nguyễn Văn Quang có 01 tiền án, đã được xóa án tích từ tháng 02/2017. Xét các bị cáo Lê Văn P và Nguyễn Văn Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q, sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Lê Văn P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Lê Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn P cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn Q cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn P và bị cáo Nguyễn Văn Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/12/2022.

Cỡ chữ