vanban.org

Bản án 1073/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng Nh được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Ch . Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 32/2016 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Q , huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/9/2016 cấp cho bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch không còn giá trị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1073/2019/HNGĐ-ST
Ngày 07 tháng 8 năm 2019
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Vân – Giảng viên trường ĐH Lao động xã hội

2/ Bà Nguyễn Thị Thuần – Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung - Cán bộ Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 12 đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý 480/2019/TLST-HN Ngày 03/4/2019 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 205/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 313/2019/QĐHPT-ST ngày 16/7/2019 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng Nh , sinh năm: 1993

HKTT: Thôn 1, xã Xuân Q, huyện Thọ X, tỉnh Thanh Hóa

Tạm trú: A, đường Tân S, tổ 109, khu phố 15, phướng 12, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh – (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ch , sinh năm: 1987

HKTT: Thôn 9, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

Tạm trú: A, Lê Văn K, tổ 55A, khu phố 5, phường Hiệp Th , Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh – (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng Nh trình bày:

Tôi và Ông Nguyễn Văn Ch tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2016 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Q , huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/9/2016. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, về sau vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng tăng và không thể hàn gắn, tôi cảm thấy hai vợ chồng không thể nào hòa hợp chung sống với nhau được nữa. Nay, tôi yêu cầu Tòa án cho chúng tôi được ly hôn với nhau.

Về con chung: 01 con tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 25/3/2017. Bà Nh yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông Ch cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Ch có trình bày ý kiến: trước đây tôi có đối xử không tốt và coi thường vợ để vợ cảm thấy uất ức, buồn phiền dẫn đến ly thân 3 tháng. Trong thời gian ly thân tôi cảm nhận ra rất cần có vợ con bên cạnh. Tôi rất ân hận và đề nghị Tòa án hòa giải đoàn tụ gia đình cho chúng tôi.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ kiện ly hôn, ông Nguyễn Văn Ch là bị đơn và đang cư ngụ tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo quy định tại Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào các lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu của đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:

Bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32/2016 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Q , huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/9/2016. Có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch là hôn nhân hợp pháp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch tự nguyện kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai vợ chồng luôn bất đồng quan điểm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh. Tại kết quả xác minh của Hội phụ nữ phường Hiệp Th xác định mâu thuẫn: “bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch thường xuyên mâu thuẫn do ông Ch không quan tâm đến vợ con, gia đình. Thường xuyên bạo hành vợ, bạo hành tình dục, bạo hành thể xác. Từ kháng 4/2018 đến tháng 3/2019 bà Nh và ông Ch đã ly thân không còn sống chung nữa. Theo hội LHPN phường giữa bà Nh và ông Ch không còn tình cảm, không hòa hợp trong cách sống nên không còn khả năng đoàn tụ”.

Tòa án đã tạo điều kiện cho hai bên trong nhiều tháng để hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, ông Ch không đề ra kế hoạch có tính khả thi để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai vợ chồng sống ly thân, ngoài ra trước đó bà Nh đã nộp đơn ly hôn và được hòa giải đoàn tụ. Như vậy những chứng cứ trên thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nh và ông Ch là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó xét thấy yêu cầu của bà Nh là có cơ sở, nên chấp nhận.

- Về con chung: 01 con tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 25/3/2017, trẻ Như Ý hiện đang ở với bà Nh . Bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con, yêu cầu ông Ch cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành. Theo trình bày của bà Nh , ông Ch hiện nay là chủ xưởng gỗ và là giám đốc công ty Thiết kế nội thất Như Ý. Tại phiên tòa ông Ch đồng ý với mức cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con trưởng thành. Xét thấy yêu cầu trên là chính đáng và phù hợp, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Nguyễn Ngọc Như Y cho bà Lê Thị Hồng Nh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn Ch có nghĩa vụ cấp dưỡng 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, bà Lê Thị Hồng Nh phải chịu. Án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, ông Nguyễn Văn Ch phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147, Điều 179; Điều 199; Điều 200; Điều 208; Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án

Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng Nh được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Ch .

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng kết hôn số 32/2016 do Ủy ban nhân dân xã Xuân Q , huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 13/9/2016 cấp cho bà Lê Thị Hồng Nh và ông Nguyễn Văn Ch không còn giá trị.

2/ Về con chung: 01 con tên Nguyễn Ngọc Như Y, sinh ngày 25/3/2017. Giao trẻ Nguyễn Ngọc Như Y cho bà Lê Thị Hồng Nh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn Ch có nghĩa vụ cấp dưỡng 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng cho đến khi con chung đến tuổi trưởng thành.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này

Kể từ ngày bà Lê Thị Hồng Nh có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn Ch không thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con hàng tháng thì ông Nguyễn Văn Ch còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, Án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng. Bà Lê Thị Hồng Nh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số AA/2018/0015522 ngày 03/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nh đã nộp đủ án phí. Ông Nguyễn Văn Ch phải nộp án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng

5/ Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ