- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Minh T1 - Ta Thuong Mong T2"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số:1072/2017/HNGĐ-ST Ngày: 18/8/2017 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Hồng Hương
2. Bà Lê Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Hồng Thanh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Văn Hoàng – Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 177/2017/TLST-HN ngày 19 tháng 4 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 616 /2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1983
Địa chỉ: 36/42 đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Ta Thuong Mong T2, sinh năm 1989
Địa chỉ: Woodbridge Ontario L4H 1Y6, Canada.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 04/4/2017 và bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Minh T1 trình bày:
Ông và bà Ta Thuong Mong T2 quen biết nhau vào khoảng gần cuối năm 2013 qua mạng internet. Sau đó bà Ta Thuong Mong T2 đến Việt Nam du lịch, khi đi đã chuẩn bị giấy tờ để đăng ký kết hôn. Tháng 02/2014, hai bên tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn; được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/02/2014.
Sau khi kết hôn một tháng, bà Ta Thuong Mong T2 quay về Canada. Lúc này gia đình bà biết được việc sang Việt Nam đăng ký kết hôn với ông và gia đình không chấp nhận việc bảo lãnh ông sang Canada. Về phía gia đình ông cũng không chấp nhận với việc ứng xử, tính cách của bà Ta Thuong Mong T2. Từ tháng 3/2014 đến nay, hai bên không liên lạc gì với nhau. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục đời sống chung nên yêu cầu được giải quyết ly hôn để ổn định cuộc sống. Về con chung: không có Về tài sản chung, nợ chung: không có. Tại Bản tự khai ngày 13/5/2017 của bị đơn bà Ta Thuong Mong T2 được Đại sứ Quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ốt-ta-oa, Canada chứng nhận ngày 21/6/2017 có nội dung như sau: Bà và ông Nguyễn Minh T1 kết hôn với nhau vào năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 394 quyển số 02 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn bà quay về Canada. Do tình cảm hai bên không còn nên ông T1 yêu cầu ly hôn bà đồng ý. Về con chung, tài sản chung và nợ chung : không có. Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Minh T1, bị đơn bà Ta Thuong Mong T2 vắng mặt. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu và thủ tục tại phiên tòa. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ông Nguyễn Minh T1 được ly hôn bà Ta Thuong Mong T2. Con chung: không có. Tài sản chung không có gì giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Minh T1 đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; bị đơn bà Ta Thuong Mong T2 cư trú tại Canada; giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 465; Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Tại phiên tòa sơ thẩm: các bên đương sự đều có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:
Ông Nguyễn Minh T1 và bà Ta Thuong Mong T2 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014, có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 394 Quyển số 02 ngày 17/02/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.
Theo lời khai của cả đôi bên thì sau khi kết hôn bà Ta Thuong Mong T2 quay trở về Canada. Do gia đình hai bên không chấp nhận cuộc hôn nhân của ông bà nên không tạo điều kiện cho vợ chồng sống chung mà mỗi người sống mỗi nơi nên tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt. Từ khi bà Ta Thuong Mong T2 về, hai bên không có liên lạc gì với nhau, cả hai xác định tình cảm vợ chồng không còn có thể tiếp tục cuộc hôn nhân được nữa và có yêu cầu ly hôn.
Xét, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục cuộc hôn nhân hạnh phúc. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Xét, yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa đôi bên; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Đôi bên khai không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Đôi bên khai không có.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 465; Điều 469; Điều 474; Điều 477; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Minh T1 được ly hôn bà Ta Thuong Mong T2.
Giấy chứng nhận kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn số 394 quyển số 02 ngày 17/02/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: không có. 3. Về tài sản chung, nợ chung: không có. 4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng ông Nguyễn Minh T1 nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, cấn trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông T1 đã nộp tại Biên lai thu số AA/2016/0034045 ngày 17/4/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông T1 đã nộp đủ án phí. Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn ông Nguyễn Minh T1 và bị đơn bà Ta Thuong Mong T2; ông Nguyễn Minh T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, bà Ta Thuong Mong T2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nhung THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |