vanban.org

Bản án 107

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy B phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy B 18 (mười tám) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Duy B. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Duy Bách 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy B phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy B 18 (mười tám) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TßA ¸N nh©n d©n
THÀNH PHỐ SƠN LA
tØnh S¬n la

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 107/2021/HS-ST
Ngµy: 28-7-2021.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA - TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Hương;

Các hội thẩm nhân dân: Bà Bồ Thị Thái; bà Nguyễn Thị Kim Cúc;

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Mạnh Hùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Phạm Quốc Cảnh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2021/TLST-HS ngày 30/6/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/HSST-QĐ ngày 16/7/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy B (tên gọi khác: không); Sinh ngày 22 tháng 12 năm 1991 tại thành phố Sơn La; Nơi cư trú: Tổ 4, phường C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Duy T; Con bà: Nguyễn Thị L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 21/6/2011, bị TAND TP Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nay đã được xóa án án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/4/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07 tháng 4 năm 2021, Nguyễn Duy B đi bộ từ nhà đến khu vực tổ 13, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây B gặp và mua được của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ 03 viên hồng phiến với giá 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng). B cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái phía trước đang mặc, rồi đi bộ và đang tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Cơ quan Công an thành phố Sơn La thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa 03 viên hồng phiến (B khai là Methamphetamine).

Ngày 22/01/2021, Công an thành phố Sơn La tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả số ma túy thu giữ của B có khối lượng 0,29 gam, lấy 0,29 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu B.

Tại Kết luận giám định số 730/KLMT ngày 09/4/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma túy, loại chất Methamphetamine, tổng khối lượng gửi giám định là 0,29 gam, hoàn lại 0,17 gam do không sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Duy B là 0,29 gam, loại chất Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 377/CT-VKSTP ngày 28 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Duy B khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy B từ 16 tháng đến 20 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người mắc nghiện ma túy, thu nhập thấp, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị, bị cáo không có tài sản riêng.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Methamphetamine đang lưu kho vật chứng ký hiệu B.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất trong khung hình phạt để sớm được trở về với gia đình, cộng đồng và làm ăn lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Vào ngày 21/01/2021, Nguyễn Duy B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,29 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố Sơn La kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Nguyễn Duy B đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:

1. “Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”:

a)…………

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

………..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Nguyễn Duy B với số lượng tàng trữ 0,29 gam Methamphetamine là không lớn, mục đích là để sử dụng cho bản thân, do bị cáo là người đang bị mắc nghiện ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý. Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã được giáo dục, biết rõ tác hại của ma tuý đối với đời sống con người và xã hội, song vẫn cố tình phạm tội, nên cần áp dụng Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 để xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Duy B, về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung, nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

Bị cáo đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Song, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với nguồn gốc 0,29 gam Methamphetamine, bị cáo B khai nhận do bị cáo mua của người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.

Về vật chứng vụ án: Xét cần tuyên tịch thu tiêu hủy 0,17 gam Methamphetamine đang lưu kho vật chứng ký hiệu B, là phù hợp với điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy B phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy B 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/4/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Duy B.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của Công an thành phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Duy B, sinh năm 1991, tàng trữ trái phép chất ma tuý, bắt ngày 07/4/2021”, gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh phố Sơn La đã niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ Nguyễn Duy B, sinh năm 1991, tàng trữ trái phép chất ma tuý, xảy ra ngày 07/4/2021, gồm có Phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu hồng thuộc mẫu gửi giám định B, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,17 gam”.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/7/2021giữa Công an thành phố Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Duy B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000,đ (hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát TP(2 bản);

- CA thành phố;

(đã ký và đóng dấu)

- Trại giam;

- Bị cáo;

- THA phạt tù;

- THADS thành phố;

- Sở Tư pháp;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu án văn.

Đặng Thị Hương THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Hƣơng Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát TP(2 bản);

- CA thành phố;

- Trại giam;

- Bị cáo;

- THA phạt tù;

- THADS thành phố;

- Sở Tư pháp;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu án văn.

Đặng Thị Hương

Cỡ chữ