vanban.org

Bản án 107/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

104, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. 2021; Điều 29, Điều 55 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? 104, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 107/2026/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 7 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Lê Thị Bích Huế.

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Mai Mỹ Duyên.

Ngày 02/7/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí

Minh tiến hành phiên họp trực tuyến với Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 106/QĐ-TA ngày 29/6/2026, đối với:

Người bị đề nghị: Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 27/02/1998. Giới tính: Nam;

CCCD số 075098001297, cấp ngày 25/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 06/12. Nơi đăng ký thường trú: Khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (đang tạm thời chịu sự quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 4, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Ấp G, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1980.

Ông Nguyễn Hoàng T tham gia xét họp trực tuyến tại điểm cầu xét cai nghiện:

Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Huỳnh Minh Đức - Công an phường T,

Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Bùi Trí Dũng - Kiểm sát viên.

3. Người tham gia khác: Không có.

NHẬN THẤY:

Theo kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 24/6/2026 của Công

an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh và Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/6/2026 của Trạm y tế T1, ông Nguyễn Hoàng T có kết quả dương tính với ma túy (Methamphetamine).

Tại bản tường trình, biên bản ghi lời khai, ông T thừa nhận bản thân có sử

dụng ma túy trái phép từ giữa năm 2024, lần sử dụng gần nhất là ngày 18/6/2026, ông T khai báo đang là lao động tự do và ở trọ tại Nhà T, tổ H, khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25/6/2026, Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông

báo số 106/TB-CAP và Đề nghị số 106/ĐN-CNBB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi cho Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.

Tại phiên họp, đại diện Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị

áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn là từ 24 tháng đến 26 tháng.

Ý kiến của người bị đề nghị Nguyễn Hoàng T: Ông T thừa nhận hành vi,

không có ý kiến tranh luận và đồng ý với đề nghị của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh phát

biểu ý kiến: Quá trình lập hồ sơ, xem xét, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị đã được các cơ quan tiến hành đúng quy định pháp luật; việc thụ lý và mở phiên họp của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh đã chấp hành đúng Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do ông T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã được cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Tòa án chấp nhận theo đề nghị của Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T với mức đề nghị từ 24 tháng đến 26 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.

XÉT THẤY:

- Về thẩm quyền: Hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành

chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T được Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh lập theo Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C1, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao. Thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính thuộc Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định khoản 2 Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Về thời hiệu: Người bị đề nghị ông T bị lập biên bản vi phạm hành chính

ngày 24/6/2026. Ngày 02/7/2026, Tòa án nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là đúng thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Về nội dung: Căn cứ biên bản làm việc, biên bản ghi lời khai ngày

24/6/2026 và bản tường trình ngày 25/6/2026 của ông T, Biên bản xét nghiệm, Phiếu trả lời kết quả, Phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy người bị đề nghị của Công an phường T và Trạm y tế T1, có đủ cơ sở kết luận ông T là người nghiện ma túy, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện và điều trị nghiện tại nhà.

Ông T thuộc đối tượng phải áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy và Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của , về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với

ông T là đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 103, Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020. Đề nghị của Công an phường T về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Không có.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc đưa ông T vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc là cần thiết, để ông T được chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên tham gia phiên họp là

phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều

104, khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ

tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Căn cứ khoản 5 Điều 5, Điều 28, Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm

2021; Điều 29, Điều 55 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025.

Căn cứ Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021

của Chính phủ;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

đối với người bị đề nghị Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 27/02/1998.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (Hai mươi bốn)

tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị đề nghị Nguyễn Hoàng T có quyền khiếu nại, Công an phường

T, Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kiến nghị, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T, Thành phố Hồ Chí Minh

chủ trì, phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy số 4, Thành phố Hồ Chí Minh đưa Nguyễn Hoàng T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số D, Thành phố Hồ Chí Minh./.

Cỡ chữ