- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2026/HS-ST Ngày 17 - 4 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tuấn và bà Nguyễn Thị Thuê.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Chính - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đinh Như Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 89/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:
Hoàng Văn C, sinh năm 1971 tại Ninh Bình; Căn cước công dân số: 036071012297; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã P, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở : Tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Nguyễn Thị C1 (đều đã chết); vợ: Đinh Thị L; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 20/12/2025, chuyển tạm giam từ ngày 29/12/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 - Công an tỉnh N; có mặt.
- Người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Quang B, sinh năm 1976; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Như V, sinh năm 1972; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/12/2025, Hoàng Văn C đang ở phòng trọ tại tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình thì có bạn tên T điều khiển xe ô tô màu đen (không nhớ biển kiểm soát) đến rủ C đi mua ma túy về sử dụng, C đồng ý. Sau đó, T chở C đến đoạn đường thuộc tổ dân phố số F, phường K, tỉnh Ninh Bình thì dừng xe lại, T đưa tiền và 01 chiếc điện thoại màu đen nhãn hiệu Mastel cho C, C hiểu ý T đưa tiền để mua ma túy cùng sử dụng nên cầm tiền cất vào túi quần và cầm điện thoại rồi xuống xe ô tô (Cháng không đếm số tiền T đưa là bao nhiêu), C đi đến khu vực gần cửa hàng bán xăng dầu còn T điều khiển xe ô tô bỏ đi. Cháng thấy một người đàn ông đang ngồi trên xe mô tô màu đen, nhãn hiệu H (không rõ biển số xe), C lấy tiền đưa cho người này, người này cầm tiền rồi đưa lại cho C 02 túi nilon màu trắng, bên trong mỗi túi đều có 01 gói giấy bạc màu trắng. Cháng biết đó là ma túy nên cầm cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi ra đường tìm T để tìm chỗ sử dụng ma túy thì gặp lực lượng Công an phường K, tỉnh Ninh Bình trên đường tuần làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của C đang mặc 02 túi nilon màu trắng, đều có kẹp viền màu đỏ, mỗi túi nilon đều chứa 01 gói giấy bạc màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng, C khai là ma tuý mục đích cất giữ là để sử dụng. Lực lượng công an đã đưa C cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm:
- T1 trong túi quần phía trước, bên trái của Hoàng Văn C đang mặc 02 túi nilon màu trắng, đều có kẹp viền màu đỏ, mỗi túi nilon đều chứa 01 gói giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong mỗi gói giấy bạc đều chứa chất bột màu trắng, được niêm phong trong một phong bì ký hiệu QT01.
- T1 tại tay phải của Hoàng Văn C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 350401561740404, số IMEI 2: 350401561740412, bên trong có lắp 01 chiếc sim Viettel, điện thoại cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02.
- Thu mẫu nước tiểu của C, ký hiệu M01.
Ngày 21/12/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn C tại tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình, kết quả không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,273g, loại Heroine (H)”.
Tại bản kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng K
- Công an tỉnh N kết luận: “Tìm thấy chất Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu M01 (ghi thu của Hoàng Văn C, sinh năm 1971, trú tại tổ A, phường P, tỉnh Ninh Bình)”.
Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKS-KV5 ngày 25/3/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã truy tố Hoàng Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
+ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định cùng bao gói được niêm phong trong phong bì số 152/KTHS. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 350401561740404, số IMEI 2: 350401561740412 và 01 sim V1.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, các chứng cứ thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.
Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 ngày 20/12/2025, tại tổ dân phố số F, phường K, tỉnh Ninh Bình, Hoàng Văn C đang cất giấu trái phép 0,273 gam ma túy, loại Heroine trong túi quần phía trước bên trái đang mặc, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường K, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Hoàng Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, C2, Methamphetamine, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về hình phạt: Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Xét mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 350401561740404, số IMEI 2: 350401561740412 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định là tài sản của người tên T đưa cho bị cáo để liên hệ mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 sim V1 lắp trong điện thoại nhãn hiệu Masstel thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Các tình tiết khác:
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Hoàng Văn C: Cháng khai nhận số ma túy trên là do C mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực tổ dân phố số F, phường K, tỉnh Ninh Bình vào ngày 20/12/2025, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ của người này. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với người đàn ông tên T đã đưa tiền và điện thoại, chở bị cáo Hoàng Văn C đi mua ma túy, C khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ của người này, không nhớ biển kiểm soát của xe ô tô. Ngoài lời khai của C thì không còn tài liệu nào khác nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với việc Hoàng Văn C dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, quá trình điều tra xác định Cháng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên hành vi của C không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an xã P, tỉnh Ninh Bình để xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016).
1/ Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Xử phạt bị cáo: Hoàng Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2025.
3/ Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì số 152/KTHS, mặt trước phong phì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” và 01 chiếc sim V1.
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, số IMEI 1: 350401561740404, số IMEI 2: 350401561740412, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 27/3/2026 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình).
4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành bản án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình; - CQ CSĐT CA tỉnh Ninh Bình; - CQ THAHS CA tỉnh Ninh Bình; - THADS tỉnh Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2 - CA tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu HSVA; VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Ngân |