vanban.org

Bản án 107/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và chấm dứt trước hạn hợp đồng vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021 với bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1.

Buộc bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 49.359.012 đồng (bốn mươi chín triệu, ba trăm năm mươi chín nghìn không trăm mười hai đồng), trong đó nợ gốc là 40.000.000 đồng, tiền lãi là 9.359.012 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng C - Phùng Thị H, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thanh T1"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và chấm dứt trước hạn hợp đồng vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021 với bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2025/DS-ST
Ngày: 29/8/2025
Về “tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Bi;

2. Ông Lê Thành Thạnh Tiến;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp: Không tham gia.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở 4 Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2025/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 109/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ: số 169, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là số 169, phố Linh Đường, phường Định Công, Thành phố Hà Nội);

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Q – chức vụ Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng C G(theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019);

Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Phạm H – chức vụ Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng C G (theo Giấy ủy quyền số 42/UQ-PGD ngày 31/3/2025);

Địa chỉ: đường N, khu phố N, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố N, xã V, tỉnh Đồng Tháp);

- Bị đơn: 1. Bà Phùng Thị H – sinh năm 1980;

2. Ông Nguyễn Thanh T – sinh năm 1978;

- 2 -

3. Anh Nguyễn Thanh T1 – sinh năm 1998;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T,

tỉnh Đồng Tháp);

(Ông H có mặt; bà H, ông T và anh T1 vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Hộ bà Phùng Thị H có vay vốn tại Phòng Giao dịch Ngân hàng C huyện

G 02 hợp đồng, cụ thể như sau:

Ngày 20/12/2019, Phòng Giao dịch Ngân hàng C huyện G (gọi tắt là

Ngân hàng) có phê duyệt cho hộ bà Phùng Thị H vay số tiền 30.000.000 đồng theo hợp đồng mã món vay số 6600000716834812, lãi suất 8,25%/năm, mục đích vay Cải tạo đất trồng sả thuộc Chương trình cho vay Hộ mới thoát nghèo; thời hạn vay 33 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 20/9/2022. Theo hợp đồng, thỏa thuận 12 tháng trả nợ gốc 01 lần là 10.000.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/01/2020; nhưng quá trình thực hiện hợp đồng hộ bà Phùng Thị H không thực hiện trả vốn gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng đúng kỳ hạn như hợp đồng đã ký kết. Hiện hộ bà Phùng Thị H còn nợ với số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/02/2025 là 5.830.000 đồng.

Đến ngày 20/4/2021, Ngân hàng có tiếp tục phê duyệt cho hộ bà Phùng

Thị H vay số tiền 20.000.000 đồng theo hợp đồng mã món vay số 6600000720386374, lãi suất 9%/năm, mục đích vay Cải tạo, nâng cấp, sửa chữa công trình nước sạch và công trình nhà vệ sinh thuộc Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; thời hạn vay 60 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 20/4/2026. Theo hợp đồng, thỏa thuận 06 tháng trả nợ gốc 01 lần là 2.000.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/5/2021; nhưng quá trình thực hiện hợp đồng hộ bà Phùng Thị H không thực hiện trả vốn gốc và lãi hàng tháng cho Ngân hàng đúng kỳ hạn như hợp đồng đã ký kết. Hiện hộ bà Phùng Thị H còn nợ với số tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/02/2025 là 1.805.000 đồng.

Tổng số tiền hộ bà Phùng Thị H đã vay vốn Ngân hàng là 50.000.000

đồng, đến nay còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 40.000.000 đồng, tổng số tiền lãi tạm đình đến ngày 26/02/2025 là 7.635.000 đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số

6600000716834812 ngày 20/12/2019 và hợp đồng vay số 6600000720386374 ngày 20/4/2021 với hộ bà Phùng Thị H. Yêu cầu hộ bà H gồm bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả khoản nợ gốc của 02 hợp đồng là 40.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 26/02/2025 là 7.635.000 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp

- 3 -

luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong các hợp đồng đến khi hộ bà H trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng bà H, ông T và anh T1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Phạm H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và hợp đồng vay số 6600000720386374 ngày 20/4/2021 với hộ bà Phùng Thị H. Yêu cầu hộ bà Phùng Thị H gồm bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả khoản nợ gốc của 02 hợp đồng là 40.000.000 đồng và tổng tiền lãi tính đến ngày xét xử 29/8/2025 là 9.359.012 đồng; yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ sau ngày Tòa xét xử 30/8/2025 đến khi hộ bà H trả hoàn tất nợ cho Ngân hàng.

- Bị đơn bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các bị đơn Phùng Thị H, Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh T1.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu hộ bà Phùng Thị H trả số tiền vốn, tiền lãi theo các hợp đồng vay đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại xã Tân Phú Đông, tỉnh Đồng Tháp, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Phùng Thị H đại diện hộ gia đình gồm bà H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 mở sổ vay vốn và ký 02 hợp đồng vay gồm Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay vào ngày 13/12/2019 với mã

- 4 -

món vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 để vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 8,25%/năm, mục đích vay Cải tạo đất trồng sả thuộc Chương trình cho vay Hộ mới thoát nghèo, thời hạn vay 33 tháng, thỏa thuận 12 tháng trả nợ gốc 01 lần là 10.000.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/01/2020 và Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay vào ngày 13/9/2021 với mã món vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021 để vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 9%/năm, mục đích vay Cải tạo, nâng cấp, sửa chữa công trình nước sạch và công trình nhà vệ sinh thuộc Chương trình cho vay Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, thời hạn vay 60 tháng, thỏa thuận 6 tháng trả nợ gốc 01 lần là 2.000.000 đồng, tiền lãi trả hàng tháng kể từ ngày 20/5/2021. Các hợp đồng này do nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận ký kết bởi những người có thẩm quyền, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện khi giao kết hợp đồng, hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 5 về Phạm vi cho vay của Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng. Nên xác định hợp đồng vay này hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết.

Các ngày 20/12/2019 và ngày 20/4/2021 hộ bà H được giải ngân với

tổng số tiền vay là 50.000.000 đồng, bà H đã nhận đủ số tiền vay của hợp đồng, nhưng quá trình thực hiện hợp đồng không thực hiện trả vốn, lãi đúng kỳ hạn cho Ngân hàng theo thỏa thuận là vi phạm thỏa thuận tại điểm c, tiểu mục 3.2, mục 3 về quyền và nghĩa vụ của người vay tại sổ vay vốn của Ngân hàng. Do đó, đại diện Ngân hàng yêu cầu chấm dứt các hợp đồng vay là có cơ sở, nên được chấp nhận.

Tại Giấy ủy quyền ngày 15/7/2019, ông Nguyễn Thanh T và anh

Nguyễn Thanh T1 đã ủy quyền cho bà Phùng Thị H đại diện hộ gia đình đứng ra ký các hợp đồng vay vốn của Ngân hàng với tổng số vốn gốc là 50.000.000 đồng. Giấy ủy quyền có sự chứng kiến của Trưởng ấp ông Hồ Thanh L và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang xác nhận, nên xác định việc ông T và anh T1 ủy quyền cho bà Phùng Thị H đại diện hộ gia đình ký các hợp đồng vay vốn của Ngân hàng C G là có thật. Như vậy, những người ủy quyền phải cùng với người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về số nợ theo các hợp đồng vay mà người đại diện ủy quyền đã ký kết với Ngân hàng.

Ngân hàng yêu cầu bà H, ông T và anh T1 trả số tiền nợ gốc và

tổng lãi tính đến ngày xét xử 29/8/2025 là 9.359.012 đồng, đồng thời yêu cầu bà H, ông T và anh T1 tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh từ sau ngày xét xử, tức là từ ngày 30/8/2025 đến khi hết nợ theo sổ vay vốn và sổ lưu tờ rời với mã món vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và mã món vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021 là phù hợp quy định Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: Ngân hàng yêu cầu bà H, ông T và anh

T1 có nghĩa vụ liên đới trả hết số tiền gốc 40.000.000 đồng và tổng lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 9.359.012 đồng, tổng cộng là 49.359.012 đồng, trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Xét việc bị đơn bà Phùng Thị H, ông Nguyễn

- 5 -

Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 vắng mặt không thỏa thuận được thời hạn thực hiện nghĩa vụ, nên cần buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ cho nguyên đơn khi án có hiệu lực pháp luật; phương thức và thời gian thực hiện nghĩa vụ được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và chấm dứt trước hạn hợp đồng vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021 với bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1.

1. Buộc bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C tiền vốn và lãi tính đến ngày 29/8/2025 là 49.359.012 đồng (bốn mươi chín triệu, ba trăm năm mươi chín nghìn không trăm mười hai đồng), trong đó nợ gốc là 40.000.000 đồng, tiền lãi là 9.359.012 đồng đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày 30/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ liên đới tiếp tục trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo hợp đồng vay số 6600000716834812 ngày 20/12/2019 và hợp đồng vay số 600000720386374 ngày 20/4/2021.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phùng Thị H, ông Nguyễn Thanh T và anh Nguyễn Thanh T1 phải chịu 2.467.951 đồng (hai triệu, bốn trăm sáu mươi bảy nghìn, chín trăm năm mươi mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

- 6 -

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ