vanban.org

Bản án 107/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H.

Buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho bà Trần Thị L với số tiền là 2.134.477.328 đồng (Hai tỉ, một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm bảy mươi bảy ngàn, ba trăm hai mươi tám đồng); trong đó tiền nợ gốc là 1.450.000.000 đồng, tiền lãi suất là 684.477.328 đồng. Kể t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN BẢO L TỈNH
LÂM ĐỒNG
Bản án số: 107/2024/DS-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v:“Tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Hà Vi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Đình Quảng

Ông Phạm Đức Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L không tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024,tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 145/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109A/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2024/ QĐST- DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn 4, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Xuân V, sinh năm 2004; Địa chỉ: Số 168/1/9 Nguyễn Văn Cừ, phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng;

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; Địa chỉ: thôn 5, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng;

(Anh Trần Xuân V có đơn đề nghị vắng mặt, bà Nguyễn Thị H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/6/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết Nguyên đơn bà Trần Thị L và lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 23/5/2022 bà Trần Thị L có cho bà Nguyễn Thị H, địa chỉ tại thôn 5, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng vay số tiền 1.450.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 3%/ tháng. Khi vay hai bên có viết giấy tờ tay vay tiền và bà H đã nhận tiền và ký tên. Thời hạn bà H vay là 1 tháng, mục đích để đáo hạn ngân hàng. Khi vay bà H có hẹn nếu không trả đủ gốc thì giao lô đất cho bà L. Tuy nhiên từ ngày vay tiền cho đến nay bà H không trả tiền nợ gốc cũng như tiền lãi cho bà L.

Nay bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bảo L giải quyết buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả cho bà L số tiền nợ gốc là 1.450.000.000 đồng và tiền lãi suất phát sinh tính từ ngày 23/5/2022 đến ngày giải quyết xong vụ án với mức lãi suất 1.67%/ tháng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập làm việc nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 16/8/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, do vậy việc hòa giải không được.

Tại phiên toà hômnay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền: Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại thôn 5, xã Lộc Tân, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, phải trả số tiền vay nợ gốc là 1.450.000.000 đồng và lãi suất phát sinh nên xác định quan hệ “Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân huyện Bảo L giải quyết theo quy định khoản 3 Điều 26, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, đối chiếu tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thể hiện:

3.1 Đối với hợp đồng vay tiền ngày 22/5/2022 bản gốc viết tay thể hiện nội dung: Ngày 22/5/2022 bà Trần Thị L cho bà Nguyễn Thị H vay số tiền 1.450.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận là 3%/ tháng, hẹn thời hạn trả nợ là sau 1 tháng. Tuy nhiên quá trình vay và trả nợ thì bà Nguyễn Thị H không trả lãi cũng như nợ gốc cho bà L. Do vậy bà L khởi kiện yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ gốc. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã thông báo thụ lý vụ án cũng như triệu tập bà Nguyễn Thị H làm việc về nội dung khởi kiện của bà Trần Thị L nhưng bà H vắng mặt nên không có lời khai nào về khoản nợ trên, trong khi đó bà L cung cấp được hợp đồng vay nợ bản gốc có chữ kí của bên B là bên vay tiền “H, Nguyễn Thị H”. Do vậy có căn cứ để chấp yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả nợ số tiền nợ gốc là 1.450.000.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.

3.2 Việc hai bên vay tiền có ghi giấy nợ với mức lãi suất là 3%/ tháng nhưng bà L trình bày bà H chưa trả tiền lãi suất phát sinh nên bà L yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải trả lãi suất là 1.67%/ tháng tính từ ngày 22/5/2022. Do bà Nguyễn Thị H không có lời trình bày nào về khoản trả tiền lãi suất phát sinh do vậy bà Trần Thị L yêu cầu lãi suất tính từ ngày 22/5/2022 đến ngày 30/9/2024 là: 1.450.000.000 đồng x 1.67% tháng x 28 tháng 8 ngày = 684.477.328 đồng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tổng cộng số tiền gốc và tiền lãi là 2.134.477.328 đồng.

. Về án phí: Do bà Nguyễn Thị H phải trả cho bà Trần Thị L số tiền 2.134.477.328 đồng nên cần buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.134.477.328 đồng x 5% = 74.689.500 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H.

Buộc bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả số tiền nợ gốc và lãi phát sinh cho bà Trần Thị L với số tiền là 2.134.477.328 đồng (Hai tỉ, một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm bảy mươi bảy ngàn, ba trăm hai mươi tám đồng); trong đó tiền nợ gốc là 1.450.000.000 đồng, tiền lãi suất là 684.477.328 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 01-10-2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật, nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 74.689.500 đồng.

Bà Trần Thị L được nhận lại số tiền 36.554.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0007090 ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo L.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2015.

Cỡ chữ