vanban.org

Bản án 107/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/01/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy…

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn V n L. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Thị Thu V"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2024/DS-PT
Ngày: 30-01-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự,
công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử d ng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Thẩm phán:

Bà Đỗ Thị Hòa

Bà Võ Thị Kim Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tiển - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 n m 2024 t i Tr s Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công hai v án th l số: 656/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 n m 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quy t định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 6040/2023/QĐPT-DS ngày 20/12/2023 và Quy t định ho n phiên tòa phúc thẩm số: 563/2024/QĐ-PT ngày 10/01/2024, gi a các đương sự:

- Nguyên đơn:

1/Bà Phan Thị Thu V, sinh n m 1959

Địa chỉ: E N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/Bà Nguyễn Thị H, sinh n m 1957

Địa chỉ: 1 N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công T, sinh n m 1959; địa chỉ: 3 T, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh n m 1966

Địa chỉ: I N, ấp B, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư

Nguyễn Thị Ngân B - Công ty L3 - Đoàn Luật sư Thành phố H.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/Ông Vũ V n C, sinh n m 1965

Địa chỉ: I N, ấp B, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/Ông Nguyễn V n L, sinh n m 1966

Địa chỉ: E ấp H, x B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/V n phòng công chứng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: I L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/Ông Đỗ Minh H2, sinh n m 1982

5/Bà Huỳnh Thị Như T1, sinh n m 1985

Cùng địa chỉ: D T, hu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ

Chí Minh.

6/Bà Trần Thị Ngọc B1, sinh n m 1983

Địa chỉ: 154/5/11 hu phố F, đường T, phường T, Quận A,

Thành phố Hồ Chí Minh.

7/Ông Tống V n L1, sinh n m 1995

Địa chỉ: 7 P, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

8/Ông B ch Công H3, sinh n m 1995

Địa chỉ: Ấp C, x P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

9/V n phòng Công chứng Nguyễn Tất T2, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Địa chỉ: D Tỉnh lộ 8, ấp C, x P, huyện C, Thành phố Hồ Chí

Minh.

10/V n phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: G C, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

11/Ông Vũ Hùng P, sinh n m 1980

12/Bà Vũ Thị Thanh H4, sinh n m 1990

Cùng địa chỉ: 2 L, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

1/Ông Võ Quốc C1, sinh n m 1984

Địa chỉ: Ấp G, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/Ông Nguyễn V n K, sinh n m 1978

Địa chỉ: Số G N, ấp B, x P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/Ông Nguyễn V n D, sinh n m 1969

Địa chỉ: Ấp X, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H1 là bị đơn; ông Nguyễn V n L là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan.

(Ông T, bà H1, Luật sư B có mặt; ông C, V n phòng công chứng Nguyễn Tất T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Nguyễn V n L, V n phòng C4, ông H2, bà T1, bà B1, ông Tống V n L1, ông H3, V n phòng C5, ông P, bà H4, ông C1, ông K, ông D vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 24/02/2022, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi th l v án dân sự sơ thẩm số: 82/2022/TLST-DS gi a nguyên đơn bà Phan Thị Thu V với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1.

Ngày 24/02/2022, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi th l v án dân sự sơ thẩm số: 83/2022/TLST-DS gi a nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1.

Ngày 01/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi ban hành Quy t định nhập v án số: 01/2022/QĐNVA-DS nhập v án th l số: 83/2022/TLST-DS vào v án th l số: 82/2022/TLST-DS ngày 24/02/2022 gi a nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bà Phan Thị Thu V với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1.

1. Vụ việc tranh chấp giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị H với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1

Trong Đơn h i iện, đơn h i iện bổ sung và trong quá trình giải quy t v án, nguyên đơn ông Nguyễn Công T đ i diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H trình bày: Do có mối quan hệ quen bi t nên hoảng đầu n m 2019, bà H1 nói với bà H có bi t một lô đất t i huyện C n u mua sẽ có hả n ng sinh lời cao. Do tin tư ng nên bà H, bà Trần Thị Ngọc B1 và bà H1 cùng thống nhất hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 với nội dung: Bà H, bà H1, bà B1 hùn vốn nhận chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa đất số 544, tờ bản đồ số 27, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi là thửa 544) theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00678/20 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/7/2008 với giá là 2.100.000.000 đồng (hai tỷ một tr m triệu đồng), mỗi bên sẽ góp 1/3 tương đương số tiền là 700.000.000 đồng (bảy tr m triệu đồng).

Bà H đ giao đủ cho bà Hằng số tiền góp 700.000.000 đồng và các bên cùng ra V n phòng Công chứng (sau đây vi t tắt là VPCC) hợp đồng chuyển nhượng. T i thời điểm công chứng bà B1 rút phần vốn góp của mình nên bà H1 đ nhận góp luôn phần của bà B1. Như vậy, bà H1 góp 2/3, bà H góp 1/3 giá trị quyền sử d ng đất. Bà H và bà H1 thỏa thuận thống nhất để bà H1 đ i diện đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử d ng để thuận tiện cho việc giao dịch.

Ngày 06/3/2019, bà H1 đ i diện đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử d ng thửa đất 544 từ ông Nguyễn V n P1. Ngày 12/3/2019, bà H1 được cập nhật sang tên t i trang tư của giấy chứng nhận quyền sử d ng.

Thời gian gần đây, bà H cần tiền để giải quy t công việc gia đình nên có liên hệ, yêu cầu bà H1 chuyển nhượng thửa 544 để bà H rút phần góp của mình nhưng bà H1 hông đồng .

Ngày 04/3/2022, bà H1 và chồng là ông Vũ V n C hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 544 với ông Nguyễn V n L t i VPCC Đ nhưng t i hợp đồng ghi giá chuyển nhượng đất hông đúng với giá thực t . Bà H1 hông trả vốn góp và tiền lời cho bà H nên bà H h i iện yêu cầu Tòa án giải quy t:

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải trả cho bà H 1/3 giá trị quyền sử d ng đất thửa 544 theo chứng thư định giá tài sản. Yêu cầu trả một lần sau hi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa 544 gi a ông Nguyễn V n L và vợ chồng bà H1, ông C lập ngày 04/3/2022 vì bà H1 bi t bà H h i iện yêu cầu chia tài sản nên bà H1 đ chuyển nhượng cho ông L nhằm m c đích tẩu tán tài sản đối với bà H và đây cũng là hợp đồng giả cách để che đậy cho hợp đồng vay tiền của bà H1.

T i phiên tòa sơ thẩm: Ông T đ i diện bà H trình bày: Thửa 544 giá trị thực t là 5.077.940.000 đồng theo chứng thư định giá và t i thời điểm

hợp đồng chuyển nhượng cho ông L đ có người mua giá 5.000.000.000 đồng nhưng hợp đồng chuyển nhượng gi a ông L và bà H1 ghi giá 990.000.000 đồng. Ông L, bà H1 cũng xác nhận hông có việc giao nhận số tiền 990.000.000 đồng t i hợp đồng chuyển nhượng thửa 544 mà ông L đ giao cho bà H1 nhiều lần tiền trước đó từ hợp đồng vay tiền và hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất 513 x P, huyện C, TP H. Ngoài ra, gi a ông L và bà H1 hông có bất ỳ v n bản nào về việc hoán đổi việc mượn tiền vay và hợp đồng đặt cọc thửa 513 để cấn trừ, chuyển đổi từ thửa 513 sang thửa 544.

Nguyên đơn yêu cầu bà H1, ông C hoàn l i giá trị bằng tiền theo chứng thư định giá ngày 07/7/2022, sau hi trừ đi giá trị xây dựng, sửa ch a, tôn t o t i chứng thư định giá ngày 07/6/2023, chia tỷ lệ vốn góp cho bà H theo tỷ lệ 1/3 theo giá trị chứng thư ngày 07/7/2022, phần bà H được nhận là:

5.077.940.000 đồng – (2.100.000.000 đồng : 3) = 992.646.000 đồng + 700.000.000 đồng = 1.692.646.000 đồng (một tỷ sáu tr m chín mươi hai triệu sáu tr m bốn mươi sáu ngàn đồng).

2.Vụ việc tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phan Thị Thu V với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1.

Trong Đơn h i iện, đơn h i iện bổ sung và trong quá trình giải quy t v án, nguyên đơn ông Nguyễn Công T đ i diện theo ủy quyền của bà Phan Thị Thu V trình bày: Do có mối quan hệ quen bi t nên hoảng đầu n m 2019, bà H1 nói với bà V có bi t một lô đất t i huyện C n u mua sẽ có hả n ng sinh lời cao. Do tin tư ng nên bà V và bà H1 thống nhất góp vốn nhận chuyển nhượng thửa đất 513, tờ bản đồ số 01, x P, huyện C, TP H theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ cấp GCN: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018 (sau đây gọi là thửa 513) với giá là 2.600.000.000 đồng (hai tỷ sáu tr m triệu đồng). Sau hi bàn b c, bà H1 và bà V thống nhất vốn góp với tỷ lệ vốn góp của mỗi người là 50%, mỗi bên đ góp đủ 1.300.000.000 đồng (một tỷ ba tr m triệu đồng).

Đ n ngày 03/9/2019, bà H1 và bà V cùng đ n VPCC để lập hợp đồng chuyển nhượng. T i đây bà H1 và bà V thống nhất bà H1 sẽ là người đ i diện đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử d ng đất nói trên theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 005867 ngày 03/9/2019, t i VPCC P, TP H (nay là VPCC L số A H, Phường I, quận P).

Ngày 09/9/2019, bà V và bà H1 đ lập giấy giao nhận tiền là 1.300.000.000 đồng để xác nhận việc góp vốn. Kể từ hi nhận chuyển nhượng phần đất nói trên, bà V đ nhiều lần yêu cầu bà H1 phải ti n hành các thủ t c để tách thửa và chuyển quyền sử d ng đất đối với thửa 513 cho bà V nhưng bà H1 cố tình trì ho n.

Do đó, bà V h i iện yêu cầu Tòa án giải quy t:

- Buộc bà H1 và ông C phải ti n hành thủ t c tách thửa và chuyển quyền sử d ng ½ thửa đất 513 cho bà V hoặc chia ½ giá trị thửa đất 513 cho bà V.

- Hủy hợp đồng ủy quyền gi a ông C, bà H1 với ông B ch Công H3 lập ngày 05/4/2022 t i VPCC Nguyễn Tất T2.

- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa đất 513 gi a ông B ch Công H3 và ông Tống V n L1 lập ngày 05/4/2021 t i V2.

- Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Tống V n L1 vào ngày 15/4/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CHO 4325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018.

- Hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 513 gi a ông Tống V n L1 với ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 lập ngày 12/7/2022 t i VPCC Chu Thành C2.

- Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vào ngày 31/10/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018.

T i phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà V xin rút một phần yêu cầu h i iện đối với yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền gi a ông C, bà H1 với ông B ch Công H3 lập ngày 05/4/2022 t i VPCC N, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa đất 513 gi a ông B ch Công H3 và ông Tống V n L1 lập ngày 05/4/2021 t i VPCC C, hủy cập nhật đ ng

chuyển nhượng cho ông Tống V n L1 vào ngày 15/4/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018, hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 513 gi a ông Tống V n L1 với ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 lập ngày 12/7/2022 t i VPCC C, hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vào ngày 31/10/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018 và yêu cầu bà H1 phải trả số tiền 117.000.000 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bà H1 và ông C phải hoàn trả cho bà ½ giá trị thửa đất 513 theo chứng thư thẩm định ngày 07/7/2022 là:

5.794.850.000 đồng - 2.600.000.0000 đồng= 3.194.850.000 đồng/2 = 1.597.425.000 đồng + 1.300.000.000 đồng = 2.897.425.000 đồng (hai tỷ tám tr m chín mươi bảy triệu bốn tr m hai mươi l m ngàn đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H1 là bị đơn trình bày:

1. Đối với yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:

T i các bản tự hai trước đây, bà H1 trình bày: Ngày 06/3/2019, ba người là bà H, bà B1 và bà H1 có lập hợp đồng góp vốn và thỏa thuận góp vốn thực hiện mua thửa đất số 544, mỗi bên góp 700.000.000 đồng để thực hiện mua thửa đất trên, phương thức góp vốn bằng tiền mặt. Sau đó chỉ có bà H1 và bà H góp vốn, còn bà B1 không góp nên việc ti n hành mua thửa đất 544 hông thực hiện được. Trong thời gian sau này, bà H đi định cư bên Mỹ nên gọi điện về báo cho bà H1 và bà H1 đ trình bày sự việc là hông thực hiện mua thửa đất trên theo thỏa thuận của 3 bên, bà H cũng đồng về nhận l i tiền.

Nay bà H1 xác nhận l i sự thật v án như sau: Số tiền 700.000.000 đồng bà H1 có nhận của bà H nhưng nhận thành nhiều lần, m c đích để mua nh ng lô đất hác chứ hông phải thửa 544. Việc chuyển nhượng thửa 544 là do cá nhân bà H1 mua, mượn tiền từ bà Phan Thị Thúy L2, việc này có bà B1 làm chứng. Trước đây, bà H1 hai là có nhận số tiền 700.000.000 đồng từ bà H, có hợp đồng góp vốn và thông báo trả l i tiền cho bà H là do tinh thần hông minh mẫn, bà H uy hi p, ép , để bảo vệ tính m ng nên bà H1 phải . Đồng thời, bà H1 cũng tránh việc liên quan đ n hình sự và đ ng ch m đ n việc tách thửa và thổ cư của thửa 513. Nay với yêu cầu h i iện của bà H, bà H1 hông đồng vì hông có việc góp vốn mua thửa đất 544. Yêu cầu bà H làm rõ việc giao nhận tiền.

T i phiên tòa, bà H1 xác định bà H hông hùn tiền mua thửa 544, hợp đồng góp vốn gi a bà H1 và bà H hông được thực hiện b i ngày 06/3/2019, hông có mặt bà H mà chỉ có mặt bà H1 và bà B1, vợ chồng ông Nguyễn V n P1 và bà Trịnh Thị V1. Bà B1 có mặt để bàn giao phần đặt cọc trước đây bà đ i diện với ông P1. Phần tiền hôm đó là 2.000.000.000 đồng, bà H1 thanh toán đủ cho vợ chồng ông P1 và cả tiền công chứng 500.000 đồng. Việc bà H1 gửi thông báo trả tiền góp vốn ngày 22/02/2022 cho bà H là do bà H luôn đưa nhiều người l tới hủng bố và uy hi p tinh thần, tính m ng của bà H1. Thời gian này, bà H1 lo bảo vệ lốc hồ sơ chuyển m c đích thửa 513 nên bà nghe đ i diện theo ủy quyền làm thông báo để tránh nh ng việc đáng ti c xảy ra, đồng thời cũng trình báo Công an huyện C về hành vi của bà H nhưng đ rút l i đơn vào tháng 9/2022. Bà H có đưa cho bà H1 nhiều hoản tiền để mua nh ng lô đất hác. Do đó, bà H1 đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu đối với hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 gi a bà H1, bà B1 và bà H.

2. Đối với yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Phan Thị Thu V: bà H1 không quen bi t bà V, do quá trình nhận chuyển nhượng thửa 513 của ông Đỗ Minh H2, bà H1 thi u tiền nên bà H giới thiệu bà V cho bà H1 mượn số tiền 400.000.000 đồng để thanh toán tiền mua đất cho ông H2. Sau đó, ngày 06 và ngày 09/9/2019, bà V ti p t c cho bà H1 mượn thêm số tiền 250.000.000 đồng. Như vậy, bà V cho bà H1 mượn tổng cộng 650.000.000 đồng. Bà V hông góp tiền mua thửa 513 với bà H1 mà là vay mượn tiền.

T i phiên tòa, bà H1 xác nhận biên bản giao nhận tiền đề ngày 09/9/2019 bà H1 để m c đích làm niềm tin sẽ hứa bán cho bà V ½ thửa 513. T i giấy giao nhận tiền ngày 09/9/2019 bà H1 xác nhận bà là người vi t dòng ch : “tôi đ nhận đủ 1.300.000.000 đồng”, đồng thời bà ghi nội dung: “số tiền trên là tiền ½ giá trị của thửa đất n m 2013, bộ phận địa chính huyện C” nhưng thực t bà V chỉ đưa cho bà số tiền 650.000.000 đồng đ mượn. Nay với yêu cầu h i iện của bà V, bà H1 hông đồng .

3. Đối với yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập t i hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 04/3/2022 gi a ông Nguyễn V n L và bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Vũ V n C:

3.1.Bị đơn bà H1 trình bày: Ngày 13/01/2022, bà H1 có mượn ông L số tiền 2.000.000.000 đồng để tất toán c n nhà số B tỉnh lộ 2 do bà H1 vay t i Ngân hàng A với số tiền là 1.700.000.000 đồng, đ quá h n 07 tháng và để thực hiện công đo n cuối của hồ sơ chuyển m c đích tách thửa đối với thửa 513 đ

hợp đồng đặt cọc với ông L. T i ngân hàng A – CN Đông S bà H1 đ giao cho ông L giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên bà đối với thửa 544.

Ngày 14/01/2022, ông L trả l i giấy chứng nhận trên cho bà H1.

Ngày 14/02/2022, do cần 200.000.000 đồng nên bà H1 mượn thêm ông L để xử l hồ sơ tách thửa lô đất 513.

Ngày 03/3/2022, ông L cho bà H1 mượn thêm số tiền 500.000.000 đồng t i Phòng G để trả cho ông Phan Công T3 rồi đề nghị bà công chứng chuyển nhượng thửa 544 cho ông L với giá 990.000.000 đồng, sau đó ông L gi h t giấy tờ.

Ngày 04/3/2022, bà H1 và ông C hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất với ông L có giá chuyển nhượng 990.000.000 đồng nhưng hông có việc giao nhận tiền từ hợp đồng này mà việc hợp đồng này thực chất để ông L đứng tên dùm.

T i Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng đặt cọc ngày 06/7/2021 đối với thửa 513, bà H1 có nhận đủ 1.400.000.000 đồng là tính luôn hợp đồng mua bán đất giấy đặt cọc ngày 17/5/2021. Bà H1 và ông L hông có v n bản thỏa thuận nào hay bất ỳ thỏa thuận miệng nào hác về việc chuyển đổi việc ông L hông mua được thửa 513 sẽ cấn trừ sang thửa 544.

Lý do bà H1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 544 vì ông L mua thửa 513 chứ hông phải thửa 544 và hợp đồng vay tiền ngày 14/02/2022 là nh ng lần mượn tiền theo chứng từ giao dịch ngày 13/01/2022 thể hiện bà có nhận của ông L số tiền 2.000.000.000 đồng. Hiện t i, bà H1 xác định c n nhà 238 tỉnh lộ 2 thuộc thửa 544 đ giao cho ông Nguyễn V n L gi dùm. Ông L sửa ch a nhà hông có sự đồng của bà H1 nhưng số tiền ông L bỏ ra sửa ch a hoảng 700.000.000 đồng bà H1 sẽ hoàn l i cho ông L. Bà yêu cầu Tòa tuyên hợp đồng chuyển quyền sử d ng đất số 00005156 t i VPCC Đồng Tâm ngày 04/3/2022 đối với thửa 544 là vô hiệu vì hợp đồng giả cách để vay tiền, đề nghị ông L trả l i cho bà bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất nêu trên.

3.2. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan là ông Nguyễn V n L ủy quyền cho ông Võ Quang B2 trình bày: Ông L là người nhận chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa 544 hợp pháp, ông L đ và đang sử d ng thửa đất trên vì sau hi hợp đồng xong, ông L đ thanh toán h t số tiền phải trả cho bà H1. Thực t , số tiền ông L đ thanh toán cho bà H1 để chuyển nhượng thửa đất trên là 4.000.000.000 đồng. Ông hông bi t câu chuyện góp vốn của bà H1, bà B1, bà H và ông L cũng hông liên quan gì đ n hợp đồng góp vốn trên.

Bản chất v iện của nguyên đơn và bị đơn trong v án này là hợp đồng góp vốn, sau hi hợp đồng bị một trong các bên hông thực hiện đ n cùng, tức hông góp vốn thì hợp đồng trên đ hông còn hiệu lực đối với các bên trong hợp đồng, đồng thời t i phiên hòa giải, bị đơn luôn thừa nhận đang gi của nguyên đơn số tiền mà nguyên đơn đòi bị đơn trả l i và bị đơn cũng đồng trả l i số tiền trên.

Nay, ông L có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quy t:

1.Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 00005156 do VPCC Đồng Tâm lập ngày 04/3/2022 gi a ông L và bà H1.

2. Công nhận toàn bộ các tài sản gắn liền trên đất mà ông L đ bỏ ra xây dựng và tôn t o trên thửa đất mà ông L nhận chuyển nhượng từ bà H1, tổng số tiền là 700.000.000 đồng (bảy tr m triệu đồng).

T i phiên tòa sơ thẩm: Ông L hai nhận ngày 17/5/2021, ông có

hợp đồng mua bán nhà đất giấy đặt cọc t i thửa 513 của bà H1 với giá là 4.740.000.000 đồng và đặt cọc 1.400.000.000 đồng. Sau hi bà H1 không thể tách thửa 513 được mới thỏa thuận chuyển nhượng cho ông thửa 544. Bà H1 có mượn ông nhiều lần tiền, tính cả hợp đồng đặt cọc hơn 4.000.000.000 đồng và bà H1 chuyển nhượng thửa 544 cho ông bằng số tiền bà H1 đ thi u. Đối với hợp đồng ngày 04/3/2022 t i VPCC Đ với giá 990.000.000 đồng là do bà H1 làm hợp đồng và việc giao nhận tiền đối với hợp đồng thửa 544 hông có mà cấn trừ số tiền 4.000.000.000 đồng nhưng hai bên chỉ thỏa thuận miệng, hông có làm giấy tờ hay hợp đồng cấn trừ số tiền nợ trên.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Vũ V n C trình bày: Ông là chồng của bà H1, việc làm n hay góp vốn, vay tiền của bà H1, ông hông bi t.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan bà Trần Thị Ngọc B1 trình bày: Bà xác nhận ngày 06/9/2019, bà H, bà B1 và bà H1 có hợp đồng góp vốn nội dung thỏa thuận: bà H1, bà H, bà B1 nhất trí cùng nhau mua thửa đất 544, các bên thỏa thuận góp vốn mua phần đất nêu trên mỗi người với số tiền 700.000.000 đồng. Tuy nhiên, do bà hông có tiền nên bà hông góp vốn như thỏa thuận. Việc mua bán góp vốn gi a bà H và bà H1 hông liên quan đ n bà nên bà đề nghị được vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan VPCC Nguyễn Tất T2 trình bày: Ngày 05/4/2022, VPCC Nguyễn Tất T2 có ti p nhận yêu cầu công chứng hợp đồng ủy quyền thửa đất số 513 với nội dung ủy quyền: Ông C và bà H1 ủy quyền cho ông B ch Công H3 đ i diện thay mặt mình toàn quyền chuyển nhượng, tặng cho, th chấp … đối với thửa 513. Sau hi thẩm tra hồ sơ, công chứng viên đ thực hiện đầy đủ quy định ti p nhận và giải quy t công chứng hợp đồng cho các đương sự và đồng

tên là hoàn toàn tự nguyện, hông bị lừa dối, ép buộc. VPCC Nguyễn Tất T2 đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan VPCC Đồng Tâm trình bày: Đối với thửa đất số 544, số công chứng 0005156 chứng nhận ngày 04/3/2022, V2 đ thực hiện đúng và đầy đủ các thủ t c quy định của pháp luật, VPCC Đồng Tâm đề nghị xét xử vắng mặt.

Nh ng người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Đỗ Minh H2, bà Huỳnh Thị Như T1, ông Tống V n L1, ông B ch Công H3, VPCC C, ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vắng mặt.

Người làm chứng ông Võ Quốc C1, Nguyễn V n D và ông Nguyễn V n K thống nhất trình bày t i bản tự hai ngày 28/3/2023: Các ông có nhận thầu hoán của ông Nguyễn V n L gồm san lấp mặt bằng, sửa ch a và xây hàng rào t i địa chỉ: B Tỉnh lộ 2, ấp X, x T, huyện C với giá là 700.000.000 đồng. Các ông cam t lời hai là đúng sự thật.

T i Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đ quy t định:

1.Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Phan Thị Thu V và bà Nguyễn Thị H.

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải trả cho bà Phan Thị Thu V số tiền góp vốn mua thửa đất 513, tờ bản đồ số 1, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là 1.300.000.000 đồng và tiền l i 1.597.425.000 đồng. Tổng cộng là 2.897.425.000 đồng.

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền góp vốn mua thửa đất 544, tờ bản đồ số 27, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là 700.000.000 đồng và tiền l i 992.646.000 đồng. Tổng cộng là 1.692.646.000 đồng.

- Đình chỉ đối với yêu cầu của bà V về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng ủy quyền gi a ông C, bà H1 với ông B ch Công H3 lập ngày 05/4/2022 t i VPCC Nguyễn Tất T2. Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa đất 513 gi a ông B ch Công H3 và ông Tống V n L1 lập ngày 05/4/2021 t i V2. Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Tống V n L1 vào ngày 15/4/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018. Hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 513 gi a ông Tống V n L1 với ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 lập ngày 12/7/2022 t i VPCC Chu Thành C2. Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vào ngày 31/10/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018 và số tiền 117.000.000 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thu H1, hông chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn V n L:

- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 00005156 do VPCC Đồng Tâm lập ngày 04/3/2022 gi a ông Nguyễn V n L và bà Nguyễn Thị Thu H1 là vô hiệu.

- Buộc ông L phải giao trả thửa đất số 544, tờ bản đồ số 27, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị Thu H1.

- Buộc ông L phải trả cho bà H1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00678/20 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/7/2008, thay đổi nội dung ngày 20/01/2022.

Trường hợp ông L hông trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất bà H1 liên hệ cơ quan có thẩm quyền xin cấp l i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00678/20 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/7/2008, thay đổi nội dung ngày 20/01/2022 theo quy định của pháp luật.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho ông Nguyễn V n L số tiền 700.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, đồng thời có đơn yêu cầu thi hành án của bà V, bà H, ông L, n u bà H1 chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu l i suất chậm thanh toán theo quy định t i Điều 357 Bộ luật Dân sự n m 2015 cho đ n hi trả xong.

3.Ti p t c duy trì Quy t định áp d ng biện pháp hẩn cấp t m thời số 11/2022/QĐ-BPKCTT ngày 20/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền háng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 25/8/2023, bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu H1 háng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 04/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn V n L háng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu độc lập của ông.

T i phiên tòa phúc thẩm:

- Các đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quy t v

án.

- Ông Nguyễn Công T là người đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phan Thị Thu V và bà Nguyễn Thị H trình bày: Ông đề nghị cấp phúc thẩm hông chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa v liên quan, gi nguyên bản án dân sự sơ thẩm. L do: T i phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác nhận có nhận tiền của bà H nhưng hông nói nhận c thể số tiền bao nhiêu. C n cứ vào hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 thì bà H có giao tiền cho bà H1, phía bà H1 cũng xác nhận có nhận tiền góp vốn của bà H thể hiện t i thông báo trả tiền vốn góp ngày 22/02/2022 và bản tự hai của bà H1 t i Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Như vậy, có đủ cơ s xác nhận bà H1 có nhận 700.000.000 đồng tiền góp vốn của bà H. Còn việc bà H1 nhận 1.300.000.000 đồng tiền góp vốn của bà V thể hiện t i giấy giao nhận tiền ngày 09/9/2019. Việc góp vốn gi a các bên hông vi ph m điều cấm của pháp luật, có giấy tờ đầy đủ, có lời hai thừa nhận của bị đơn có nhận tiền nên nguyên đơn có quyền đòi quyền lợi theo quy định đối với 02 thửa đất, c thể bà H có quyền đối với quyền sử d ng đất thửa 544, bà V có quyền đối với quyền sử d ng đất thửa 513.

Đối với háng cáo của ông Nguyễn V n L. Do ông L vắng mặt t i phiên tòa lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với háng cáo của ông L.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày: Bà thay yêu cầu háng cáo t i đơn háng cáo ngày 25/8/2023. T i phiên tòa phúc thẩm, bà háng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, c thể:

+ Đối với v việc của bà Nguyễn Thị H, bà H cho rằng đ đưa cho bà 700.000.000 đồng tiền góp vốn, ngày 06/3/2019 đ có mặt V2 để làm thủ t c chuyển nhượng và ủy quyền cho bà đ i diện đứng tên trên tài sản. Tuy nhiên, bà đ nộp rất nhiều tài liệu chứng minh hông hề có việc góp vốn, bản hợp đồng bà H dùng để h i iện bị đơn chỉ có duy nhất một bản bà H có, bà H1 không có, bà B1 không có. Ngày 06/3/2019, bà H không hề có mặt VPCC T t i C. Ngày 06/3/2019, bà H1 và ông P đ

t hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng thửa đất 544, bà H1 giao số tiền 2.000.000.000 đồng cho ông P và hứa cho ông P l i một n m, hông lấy tiền thuê nhà, có sự chứng i n của bà B1 (bà B1 có mặt để thực hiện việc bàn giao giấy đặt cọc và tiền trước ia tháng 12/2018 bà H1 có nhờ bà B1 đ i diện đứng tên dùm).

Bà H cho rằng ngay thời điểm công chứng, bà B1 rút vốn, bà H góp một phần, bà H1 góp hai phần. Giả sử có

t hợp đồng thì ngay thời điểm bà B1 rút vốn hợp đồng đ vô hiệu, còn thiện chí thì bà H và bà H1 sẽ lập hợp đồng mới ngay hi nhận chuyển nhượng thửa 544. Như vậy, bà H đ dùng hợp đồng hông có giá trị để h i iện một hợp đồng hợp pháp. Do vậy, bà H1 yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 gi a bà H, bà B1, bà H1 và hông chấp nhận yêu cầu h i iện của bà H.Việc bà H1 gửi thông báo trả vốn góp ngày 22/02/2022 cho bà H là theo i n tư vấn của luật sư trong tr ng thái tinh thần bị hoảng lo n do bị bà H đe dọa, ép buộc.

+ Đối với v việc của bà Phan Thị Thu V: Bà H1 hẳng định hông có việc góp vốn gi a bà và bà V mà chỉ có việc vay tiền và hứa bán 10m ngang đất thửa 513 của bà H1 cho bà V. Bà mua 03 thửa đất của ông Đỗ Minh H2 và đ thanh toán gần h t, chỉ còn nợ ông H2 640.000.000 đồng. Ngày 03/9/2019, qua bà H giới thiệu nên bà H1 gặp bà V để vay tiền 400.000.000 đồng, cùng lúc này bà mượn của bà Nguyễn Bích U T 140.000.000 đồng, thời điểm này bà còn nợ ông H2 100.000.000 đồng, việc bà nợ ông H2 được thể hiện trên giấy chuyển hoản ngày 03/9/2019 t i tài hoản của ông H2.

Ngày 09/9/2019, bà H1 gặp bà V t i nhà bà H để thỏa thuận trị giá thửa đất bà sẽ bán là 2.600.000.000 đồng. Bà V đ đưa thêm cho bà 210.000.000 đồng để tỏ thiện chí muốn mua thửa 513 của bà. Biên nhận được bà đánh sẵn ghi 02 bản nhưng bà V hông đem đủ tiền nên bà H1 đ sửa l i trên biên bản là 01 bản. Bà H1 đ

nhận 1.300.000.000 đồng trên biên nhận đ ghi chú chi ti t nh ng phương án thanh toán để làm dịch v thổ cư. Sau đó bà V chuyển cho bà 03 lần tổng cộng 105.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền bà V giao là 715.000.000 đồng để thực hiện việc tách thửa đất bán cho bà. Rất nhiều lần bà V xác nhận là đưa cho bà H1 hơn 700.000.000 đồng.

Do vậy, bà H1 đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu giấy biên nhận tiền ngày 09/9/2019 do bà H1 lập vì bà V hông thực hiện chuyển ti p tiền mua thửa đất 513. Bác yêu cầu của bà V trong v án tranh chấp hợp đồng góp vốn, đồng trả cho bà V số tiền 715.000.000 đồng.

+ Đối với yêu cầu háng cáo của ông L: Bà H1 hông đồng .

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn vì hông có chứng cứ về việc chuyển tiền góp vốn gi a bà H và bà H1; gi a bà V và bà H1 cũng hông có việc góp vốn mà là vay mượn tiền.

- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn V n L vắng mặt.

-Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, đề nghị:

Về tố t ng: Từ hi th l v án cho đ n hi có quy t định đưa v án

ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và t i phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015. T i phiên tòa các đương sự chấp hành đúng theo quy định pháp luật.

Về nội dung:

- Đối với háng cáo của bị đơn bà H1: C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án và lời hai của các đương sự t i phiên tòa phúc thẩm có cơ s xác định có việc góp vốn gi a bà V và bà H1 cũng như gi a bà H và bà H1, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn là có c n cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

- Đối với háng cáo của ông Nguyễn V n L: T i phiên tòa phúc thẩm, đ i diện Viện iểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ho n phiên tòa nhưng hông được chấp nhận nên đ i diện Viện iểm sát hông phát biểu i n đối với nội dung háng cáo của ông L.

- Mặt hác, nguyên đơn bà H có yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 04/3/2022 gi a bà H1, ông C và ông L. Hội đồng xét xử sơ thẩm có nhận định, cũng như t i phần quy t định có quy t định chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H1 về việc tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng nói trên. Tuy nhiên, t i quy t định hông tuyên chấp nhận yêu cầu h i iện của bà H phần này là có thi u sót.

Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử c n cứ vào hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015 sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án được thẩm tra t i phiên tòa và c n cứ vào t quả tranh t ng, tranh luận t i phiên tòa, i n phát biểu của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức và thời h n háng cáo:

Ngày 25/8/2023, bị đơn bà H1 háng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm. Ngày 04/9/2023, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông L kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm. C n cứ theo quy định t i hoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố t ng dân sự 2015 thì đơn háng cáo của các đương sự còn trong h n luật định nên hợp lệ.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Người có quyền lợi và nghĩa v liên quan VPCC Nguyễn Tất T2, ông Vũ V n C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nh ng người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Ông Nguyễn V n L, bà Trần Thị Ngọc B1, ông Đỗ Minh H2, bà Huỳnh Thị Như T1, ông Tống V n L1, ông B ch Công H3, VPCC Đ, VPCC C, ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vắng mặt. Người làm chứng ông Võ Quốc C1, Nguyễn V n D và ông Nguyễn V n K vắng mặt. C n cứ vào Điều 296, 299 Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015, Tòa án ti n hành xét xử v án theo quy định.

Xét, ông Nguyễn V n L là người háng cáo bản án sơ thẩm: Tòa án đ tống đ t hợp lệ cho ông Nguyễn V n L quy t định xét xử v án phúc thẩm, giấy triệu tập đương sự đ n Tòa án vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 10/01/2024. Tuy nhiên, ông L vắng mặt hông có l do, Tòa án đ ho n phiên tòa và thông báo m l i phiên tòa vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/01/2024. Ngày 26/01/2024, ông L nhờ người quen gửi đơn ho n phiên tòa lần 2 vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/01/2024 với l do ông bị bệnh cao huy t áp, tiểu đường nhập viện ngày 25/01/2024 và hiện nay đang nằm viện t i Bệnh viện X - huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bác sĩ chỉ định thời gian điều trị éo dài nên ông đề nghị ho n phiên tòa ngày 30/01/2024. C n cứ vào giấy chứng nhận nằm viện ngày 26/01/2024 đính èm ho ch điều trị, dự i n thời gian nằm viện 3-5 ngày nộp èm theo đơn ho n phiên tòa của ông L. Tòa án đ ti n hành xác minh t i Bệnh viện X - C vào ngày 30/01/2024. C n cứ v n bản số: 76/BVXA ngày 30/01/2024 của Công ty Cổ phần X cung cấp thông tin cho Tòa án có nội dung: Ông L có đ n hám và điều trị t i Khoa Nội tim m ch Bệnh viện X từ ngày 25/01/2024 đ n ngày 29/01/2024 (đính èm giấy ra viện). Bệnh nhân đ xuất viện ngày 29/01/2024. Xét thấy, ông L là người háng cáo đ được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt t i phiên tòa xét xử phúc thẩm hông vì sự iện bất hả háng hay tr ng i hách quan và cũng hông có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. C n cứ hoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015, sự vắng mặt này xem như đương sự đ từ bỏ việc háng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử quy t định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu háng cáo của ông L.

Xét yêu cầu háng cáo của bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.

Đối với yêu cầu háng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên vô hiệu hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 gi a bà H, bà B1, bà H1 và hông chấp nhận yêu cầu h i iện của bà H.

Bị đơn háng cáo cho rằng hông có việc góp vốn gi a các bên, hông có việc bà H giao cho bà Hằng số tiền 700.000.000 đồng.

C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời hai của đương sự thì hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019, bà H1, bà B1, bà H ký và ghi rõ họ tên, thể hiện nội dung: t i điều 1 của hợp đồng: M c tiêu và ph m vi góp vốn: bà B1, bà H1 và bà H nhất trí cùng nhau mua thửa đất 544, tờ bản đồ số 27, x T, huyện C theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp GCN H00678/20 do UBND huyện C cấp ngày 14/7/2008. Điều 2: Góp vốn và phương thức góp vốn: bà B1, bà H1, bà H mỗi người góp 700.000.000 đồng để mua thửa đất 544, phương thức góp vốn: 1 lần bằng tiền mặt. Điều 3: Hiệu lực hợp đồng: Các bên hiểu rõ quyền, nghĩa v lợi ích hợp pháp của mình và hậu quả pháp l của việc giao t hợp đồng.

Cùng ngày 06/3/2019, bà H1 đ

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất với ông Nguyễn V n P1 và được cập nhật tên giấy chứng nhận quyền sử d ng đất vào ngày 12/3/2019.

Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 gi a các bên được xác lập trên nguyên tắc tự nguyện, cam t thỏa thuận các bên cùng nhau góp tài sản để chuyển nhượng thửa đất 544 nhằm m c đích sinh lời. C n cứ vào Điều 117 Bộ luật Dân sự n m 2015 thì giao dịch gi a các đương sự được xác lập hông vi ph m về chủ thể, điều cấm của pháp luật, đ o đức x hội nên phát sinh hiệu lực gi a các bên và phù hợp với quy định t i Điều 504 Bộ luật Dân sự n m 2015.

Việc bà H giao tiền góp vốn cho bà H1 theo nguyên đơn là giao tiền mặt cho bà H1. Điều này được thể hiện t i hợp đồng góp vốn: giao một lần bằng tiền mặt, cũng như t i các v n bản xác nhận của bị đơn như thông báo trả tiền vốn góp đề ngày 22/02/2022 của bà H1, bản tự hai ngày 25/3/2022 của bà H1 t i Tòa án (bút l c 399) xác nhận có nhận số tiền góp 700.000.000 đồng của bà H. Như vậy, lời hai của nguyên đơn phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ v án.

Tuy nhiên, sau đó trong quá trình giải quy t v án, bà H1 có lời hai hông thống nhất với nhau, hi thì bà H1 hai do bị bà H ép buộc, uy hi p nên phải vi t thông báo trả tiền vốn góp, hi l i hai hông có việc góp vốn gi a bà H1 ằngHa82ngvà bà H, hi l i có lời hai là có giao tiền nhưng hông phải tiền góp vốn nhưng nh ng lời hai này đều hông có chứng cứ chứng minh.

Như vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu h i iện của bà H là có c n cứ. Phía bị đơn háng cáo yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng góp vốn ngày 06/3/2019 và hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn nhưng hông đưa ra được chứng cứ mới nên hông có cơ s chấp nhận.

Đối với yêu cầu háng cáo của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên vô hiệu giấy biên nhận tiền ngày 09/9/2019 do bà H1 lập vì bà V hông thực hiện chuyển ti p tiền mua thửa đất 513. Không chấp nhận yêu cầu của bà V trong v án tranh chấp hợp đồng góp vốn, bà H1 đồng trả cho bà V số tiền 715.000.000 đồng

Xét, c n cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án cũng như lời trình bày của các đương sự: Ngày 03/9/2019, bà H1 và ông Đỗ Minh H2, bà Huỳnh Thị Như T1 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa số 513. Ngày 05/11/2019, bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s h u tài sản hác gắn liền với đất số CO 9333953 đối với thửa 513.

T i giấy giao nhận tiền ngày 09/9/2019 có nội dung: Gi a bên giao là bà Phan Thị Thu V (bên A) và bên nhận bà Nguyễn Thị Thu H1 (bên B), bên A đ giao đủ cho bên B, bên B đ nhận đủ từ bên A số tiền 1.300.000.000 đồng, số tiền trên là tiền ½ giá trị của thửa đất 513 tờ bản đồ số 1, đường B, P, C, cô Nguyễn Thị Thu H1 đ i diện đứng trên sổ”.

Bị đơn cho rằng gi a bà V và bà H1 là việc vay mượn chứ hông phải góp vốn. Tuy nhiên, lời hai của bà H1 hông thống nhất t i bút l c 381 bà H1 khai bà V giao cho bà số tiền 600.000.000 đồng, t i bút l c 407 bà H1 hai có nhận của bà V số tiền 650.000.000 đồng, t i đơn háng cáo cũng như t i phiên tòa phúc thẩm, bà H1 hai đ nhận của bà V số tiền 715.000.000 đồng cũng như nh ng lời hai trên hông có chứng cứ chứng minh.

C n cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời trình bày của đương sự, nguyên đơn cho rằng hai bên thỏa thuận góp vốn để bà H1 đ i diện đứng tên sổ là có c n cứ. Xét, việc góp vốn của các bên được xác lập trên cơ s tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật.

Ngày 05/04/2021, bà H1, ông C ủy quyền cho ông B ch Công H3 chuyển nhượng toàn bộ thửa 513 cho ông Tống V n L1 mà không thông báo cho bà V, hông hoàn trả vốn góp và l i cho bà V nên bà V h i iện là có cơ s .

Như vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà V là có c n cứ. Bà H1 háng cáo yêu cầu tuyên vô hiệu giấy giao nhận tiền ngày 09/9/2019 và hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn nhưng hông đưa ra được chứng cứ mới để làm thay đổi bản chất của v án nên hông có cơ s chấp nhận.

Trong quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn bà H có yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất lập ngày 04/3/2022 gi a bà H1, ông C với ông L1 là vô hiệu. Bà H1 cũng có yêu cầu phản tố đối với ông L1 về việc yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng nêu trên vô hiệu. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bà H1 về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng nêu trên vô hiệu.

Xét, yêu cầu của bà H, cấp sơ thẩm đ th l giải quy t, nhận định nhưng t i phần quy t định bản án hông tuyên chấp nhận yêu cầu của bà H về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/3/2022 là có thi u sót. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung t i phần quy t định.

Từ nh ng c n cứ pháp luật và nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu háng cáo của bị đơn và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là hông có cơ s . Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của bị đơn là phù hợp.

C n cứ vào hoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015, Hội đồng xét xử gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 n m 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

-Về án phí dân sự phúc thẩm: C n cứ vào hoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015. C n cứ vào Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Nguyễn Thị Thu H1 phải nộp án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí bà H1 đ nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0018029 ngày 28/8/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

- Ông Nguyễn V n L phải nộp án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí ông L đ nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0018039 ngày 06/9/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ vào hoản 1 Điều 148, Điều 296, hoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân sự n m 2015; C n cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự n m 2008 (sửa đổi, bổ sung n m 2014); C n cứ vào Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu háng cáo của người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Nguyễn V n L.

2. Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H1.

3.Gi nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 415/2023/DS-ST ngày 22 tháng 8 n m 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. 1.Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Phan Thị Thu V và bà Nguyễn Thị H.

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải trả cho bà Phan Thị Thu V số tiền góp vốn mua thửa đất 513, tờ bản đồ số 1, x P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là 1.300.000.000 đồng và tiền l i 1.597.425.000 đồng. Tổng cộng là 2.897.425.000 đồng (hai tỷ tám tr m chín mươi bảy triệu bốn tr m hai mươi l m ngàn đồng).

- Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền góp vốn mua thửa đất 544, tờ bản đồ số 27, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là 700.000.000 đồng và tiền l i 992.646.000 đồng. Tổng cộng là 1.692.646.000 đồng (một tỷ sáu tr m chín mươi hai triệu sáu tr m bốn mươi sáu ngàn đồng).

- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 00005156 do V n phòng C4 lập ngày 04/3/2022 gi a ông Nguyễn V n L và bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Vũ V n C là vô hiệu.

3.2. Đình chỉ một phần yêu cầu h i iện của nguyên đơn bà Phan Thị Thu V về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng ủy quyền gi a ông Vũ V n C, bà Nguyễn Thị Thu H1 với ông B ch Công H3 lập ngày 05/4/2022 t i V n phòng C6. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất thửa đất 513 gi a ông B ch Công H3 và ông Tống V n L1 lập ngày 05/4/2021 t i V n phòng C5. Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Tống V n L1 vào ngày 15/4/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018. Hủy hợp đồng chuyển nhượng thửa đất 513 gi a ông Tống V n L1 với ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 lập ngày 12/7/2022 t i V n phòng C5. Hủy cập nhật đ ng chuyển nhượng cho ông Vũ Hùng P và bà Vũ Thị Thanh H4 vào ngày 31/10/2022 t i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số CL889808, số vào sổ: CH04325 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 26/6/2018 và số tiền 117.000.000 đồng.

3.3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thu H1:

- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 00005156 do VPCC Đồng Tâm lập ngày 04/3/2022 gi a ông Nguyễn V n L và bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Vũ V n C là vô hiệu.

- Buộc ông Nguyễn V n L phải giao trả thửa đất số 544, tờ bản đồ số 27, x T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị Thu H1.

- Buộc ông Nguyễn V n L phải trả cho bà Nguyễn Thị Thu H1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00678/20 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/7/2008, thay đổi nội dung ngày 20/01/2022.

Trường hợp ông L hông trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử d ng đất nêu trên cho bà H1 thì bà H1 được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền xin cấp l i giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AN 190766, số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00678/20 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 14/7/2008, thay đổi nội dung ngày 20/01/2022 theo quy định của pháp luật.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu H1 phải trả cho ông Nguyễn V n L số tiền 700.000.000 đồng (bảy tr m triệu đồng).

3.4.Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn V n L về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 00005156 do V n phòng C4 lập ngày 04/3/2022 gi a ông L và bà H1. Công nhận toàn bộ các tài sản gắn liền trên đất mà ông L đ bỏ ra xây dựng và tôn t o trên thửa đất mà ông L nhận chuyển nhượng từ bà H1, tổng số tiền là 700.000.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quy t định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đ n hi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu hoản tiền l i của số tiền còn phải thi hành án theo mức l i suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự n m 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định hác.

4.Ti p t c duy trì Quy t định áp d ng biện pháp hẩn cấp t m thời số: 11/2022/QĐ-BPKCTT ngày 20/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

5.Về án phí dân sự:

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thu H1 và ông Vũ V n C phải nộp số tiền án phí là 152.727.000 đồng (một tr m n m mươi hai triệu bảy tr m hai mươi bảy ngàn đồng).

Bà H1 phải nộp số tiền án phí là 32.300.000 đồng (ba mươi hai triệu ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí bà H1 đ nộp 600.000 (sáu tr m ngàn đồng) theo hai biên lai thu tiền số 0017157 và 0017158 cùng ngày 22/4/2023. Bà H1 còn phải nộp số tiền 31.700.000 đồng (ba mươi mốt triệu bảy tr m ngàn đồng).

Ông Nguyễn V n L phải chịu 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí ông L đ nộp 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng) theo biên lai thu số 0020321 ngày 02/12/2022 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. H5 l i cho ông L số tiền t m ứng án phí 15.700.000 đồng (mười l m triệu bảy tr m ngàn đồng).

- Về án phí dân sự phúc thẩm:

- Bà Nguyễn Thị Thu H1 phải nộp án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí bà H1 đ nộp 300.000 đồng (ba tr m ngàn đồng) theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0018029 ngày 28/8/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn V n L phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền t m ứng án phí ông L đ nộp 300.000 theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0018039

ngày 06/9/2023 của Chi c c Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành t i Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng ch thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung n m 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ