- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HSST Ngày: 01 – 8 – 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Minh Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh;
2. Ông Nguyễn Bá Quyền;
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư
Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2023, tại Hội T xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm, công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số: 87/2023/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tiến D. Tên gọi hác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/10/1977 tại huyện U, thành phố Hà Nội; Nơi đăng nhân hẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố Ch, phường HT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước hi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Nguyễn Văn C; Con bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Triệu Mai H; Vợ chồng có 02 con chung (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2008); Tiền án: Không; Tiền sự: (01), Năm 2022, bị Công an thành phố Phổ Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5056/QĐ-XPHC ngày 07/11/2022; Nhân thân: (2), Tại Bản án số 491/2011/HSST ngày 30/12/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC ngày 20/9/2016 bị Đồn Công an Khu công nghiệp Yên Bình, thành phố Phổ Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Bị cáo hông bị tạm giữ, tạm giam, đang được áp dụng biện pháp “Cấm đi hỏi nơi cư trú” tại phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
2. Hoàng Văn H; Tên gọi hác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/3/1984 tại thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng nhân hẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố TT, phường TH, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước hi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Hoàng Văn D; Con bà Nguyễn Thị N; Có vợ là Nguyễn Thị L; Vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: (01), Năm 2022, bị Công an thành phố Phổ Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4987/QĐ-XPHC ngày 17/9/2022; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/4/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lê Văn C; sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn T; sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
3. Anh Lục Mạnh C; sinh năm 1987; Nơi cư trú: Xóm Quân Xóm, xã Phúc Thuận, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
4. Anh Bùi Văn T; sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
5. Ông Đỗ Văn K; sinh năm 1957; Nơi cư trú: Tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Trương Văn T sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 45 phút ngày 11/02/2023, tại chỗ ở của Đỗ Văn K thuộc tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên, tổ công tác của Công an thành phố Phổ Yên phát hiện các đối tượng Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H, Lê Văn C, Nguyễn Văn T, Lục Mạnh C, Bùi Văn T đang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Tang vật thu giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài, 01 chiếu nhựa màu xanh, 01 mũ vải màu xanh, bên trong mũ có 20.000 đồng, 2.880.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu trên chiếu bạc. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Nguyễn Tiến D tự nguyện giao nộp cho tổ công tác số tiền 1.000.000 để trên người, Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp cho tổ công tác số tiền 1.870.000 để trên người.
Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H, Lê Văn C, Nguyễn Văn T, Lục Mạnh C, Bùi Văn T, Đỗ Văn K hai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 11/02/2023, D, H, Lê Văn C, T, Lục Mạnh C và T đến nhà K thuộc tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY chơi. Sau đó, các đối tượng xin phép K đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền tại nhà K thì được K đồng . K chuẩn bị 01 chiếu nhựa, 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài để các đối tượng đánh bạc. K lấy 01 chiếc mũ vải màu xanh và tự để vào đó 20.000 đồng và bảo mọi người nếu ai được “Sáp” thì bỏ vào đó 10.000 đồng để K hưởng lợi, các đối tượng đồng . Về hình thức đánh “Liêng” được các đối tượng quy ước như sau: Ván đầu tiên chơi thì 01 người ngẫu nhiên cầm chương và chia 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài cho mỗi người chơi 03 quân bài, người cầm chương ván sau là người chơi nhất ván liền trước. Mỗi ván chơi thì từng người đóng “Gà” 10.000 đồng, mỗi người chơi có thể cá cược thêm nhưng tối đa hông quá 100.000 đồng. Về cách tính thắng thua thì đến lượt chơi của ai mà không “Tố” thêm tiền sẽ tự động úp bài, ai chơi thì “Tố” thêm tiền, sau đó sẽ lật bài để phân định thắng thua, bài cao nhất là “Sáp” (Gồm 03 quân giống nhau, cao nhất là “Sáp” A, thấp nhất là “Sáp” 2); cao thứ hai là “Liêng” (Gồm 03 quân liên tục, cao nhất là QKA, thấp nhất là 123); cao thứ ba là “Ảnh” (Gồm 03 quân J, Q, K, cao nhất là KKQ, thấp nhất là JJQ); Nếu hông vào ba T hợp này thì tính điểm, cao nhất là 09 điểm, thấp nhất là 0 điểm. Nếu cùng điểm, cùng “Liêng”, cùng “Ảnh” thì tính theo chất theo thứ tự Rô, Cơ, Bích, Tép. Khi tham gia đánh bạc, D khai D có 1.200.000 đồng, D sử dụng 200.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, D đang thắng 40.000 đồng và có 240.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 1.000.000 đồng trên người D, D hông sử dụng vào việc đánh bạc; H khai H sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, H đang thua và còn 260.000 đồng trên chiếu bạc; Lê Văn C khai C sử dụng 30.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, C đang thắng và có 290.000 đồng trên chiếu bạc; T khai T có 2.470.000 đồng, T sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, T đang thua và còn 340.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 1.870.000 đồng trên người T, T hông sử dụng vào việc đánh bạc; Lục Mạnh C khai C sử dụng 630.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, C đang thắng và có 1.200.000 đồng trên chiếu bạc; T khai T sử dụng 1.020.000 đồng để đánh bạc, hi bị phát hiện, T đang thua và còn 550.000 đồng trên chiếu bạc. Các đối tượng đánh bạc đến hoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác phát hiện. Số tiền 2.880.000 đồng thu trên chiếu bạc là số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Khi bị phát hiện, chưa ai được “sáp” nên chưa ai bỏ thêm tiền vào chiếc mũ do K chuẩn bị trước đó. Các đối tượng đánh bạc đến hoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị tổ công tác phát hiện, lập biên bản sự việc như đã nêu trên.
Tại bản ết luận giám định số: 397/KL-KTHS ngày 20/2/2023 của Phòng ỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên ết luận số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là tiền thật.
* Vật chứng của vụ án gồm:
- Số tiền 1.870.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tạm giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định T hông sử dụng vào việc đánh bạc và hành vi của T không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T quản l , sử dụng;
- Số tiền 3.900.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 mũ vải màu xanh; 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong phong bì hiệu B. Hiện số vật chứng này được chuyển đến tài hoản và ho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử l .
Với nội dung nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 102/CT-VKSPY ngày 19/6/2023 của Viện iểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H về tội “Đánh bạc” theo hoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, sau hi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện iểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H về tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H phạm tội “Đánh bạc”
2. Về hình phạt:
2.1 Về hình phạt chính:
- Áp dụng Điều 17, Điều 38, Điểm s hoản 1 Điều 51, hoản 1 Điều 321, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D từ 07 đến 10 tháng tù giam.
- Áp dụng Điều 17, Điều 38, Điểm i, s hoản 1 Điều 51, hoản 1 Điều 321, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H từ 07 đến 10 tháng tù giam
2.2 Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
3. Về xử l vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 2.880.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 20.000 đồng trong chiếc mũ vải của Đỗ Văn K để cho các đối tượng bỏ tiền vào hi được “Sáp”;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 mũ vải màu xanh; 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài;
- Trả lại số tiền 1.000.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Nguyễn Tiến D do bị cáo hông sử dụng để đánh bạc tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền háng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H đều thành hẩn hai báo, thừa nhận hành vi phạm tội, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện iểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng hác không có người nào có ý K hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà người làm chứng là ông Trương Văn Tám và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn C, anh Nguyễn Văn T, anh Lục Mạnh C, anh Bùi Văn T và ông Đỗ Văn K vắng mặt. Xét thấy những người có tên trên đều đã có lời hai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ hông gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.
. Về căn cứ buộc tội: Lời hai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H tại phiên toà hôm nay là hách quan, phù hợp với lời hai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời hai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, ết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu hác đã thu thập được, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở ết luận:
Do hám lợi, trong hoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 45 phút ngày 11/02/2023, tại chỗ ở của Đỗ Văn K thuộc tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền cùng các đối tượng Lê Văn C, Nguyễn Văn T, Lục Mạnh C, Bùi Văn T thì bị phát hiện xử l . Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 2.880.000 đồng.
Mặc dù số tiền các đối tượng nêu trên dùng vào việc đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng tuy nhiên, Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H đều đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Do vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H đã cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại hoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng:
Vụ án thuộc T hợp ít nghiêm trọng, song hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản l công cộng của Nhà nước. Các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc có tính chất sát phạt tiền bạc của nhau để iếm lời, hông những làm thiệt hại về tài sản của mình và người hác, mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết và cũng cần có mức án nghiêm hắc tương xứng với hành vi các bị cáo thực hiện nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra hỏi cộng đồng.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lợi, hông chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện, muốn iếm tiền một cách bất chính nên dẫn các bị cáo đến việc phạm tội như đã nêu ở trên.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, việc các bị cáo tham gia đánh bạc là hoàn toàn tự phát, hông có người hởi xướng và cầm đầu, trong hi tham gia đánh bạc hông có sự bàn bạc hoặc phân công vai trò hoặc người cảnh giới, trong hi sát phạt nhau đều tham gia tích cực nên cùng pH chịu một chế tài hình phạt do điều luật quy định. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Tiến D đã từng bị ết án và nhiều lần bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên vai trò tích cực hơn so với bị cáo Hoàng Văn H.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
5.1 Về nhân thân:
Bị cáo Nguyễn Tiến D là đối tượng có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử và hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Cụ thể: Năm 2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án số: 491/2011/HSST ngày 30/12/2011. Năm 2016 bị Đồn Công an Khu công nghiệp Yên Bình, thành phố Phổ Yên xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 20/QĐ-XPHC ngày 20/9/2016. Tiếp tục đến năm 2022 bị Công an thành phố Phổ Yên xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 5056/QĐ-XPHC ngày 07/11/2022. Tuy nhiên bị cáo hông lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc. Chứng tỏ bị cáo là người hó giáo dục, cải tạo, ham mê đỏ đen. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng nhưng cũng cần pH áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt.
Đối với bị cáo Hoàng Văn H cũng là đối tượng có nhân thân xấu, từng bị Công an thành phố Phổ Yên xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 4987/QĐ-XPHC ngày 17/9/2022 nhưng hông lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân. Do vậy, cũng cần pH áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
5.2 Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, cả hai bị cáo Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H đều thành hẩn hai báo và tỏ thái độ ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hoàng Văn H được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc T hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i hoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
5.3 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều hông pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Xét đề nghị của đại diện Viện iểm sát tại phiên tòa: Mức án mà đại diện Viện iểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với các bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại hoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn quy định:
“3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Xét thấy, các bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử l vật chứng:
- Đối với 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 mũ vải màu xanh; 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài là công cụ dùng để phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ;
- Đối với số tiền 2.880.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và số tiền 20.000 đồng trong chiếc mũ vải của Đỗ Văn K để cho các đối tượng bỏ tiền vào hi được “Sáp” – Hội đồng xét xử xác định đây là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ trên người bị cáo Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo xác định hông sử dụng để đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo còn pH chấp hành hình phạt bổ sung và khoản tiền án phí của bản án nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí và quyền háng cáo:
Các bị cáo bị ết án nên pH chịu án phí hình sự sơ thẩm; Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền háng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề hác trong vụ án:
Đối với các đối tượng Lê Văn C, Nguyễn Văn T, Lục Mạnh C, Bùi Văn T có hành vi “Đánh bạc” cùng Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H vào ngày 11/02/2023 tại tổ dân phố TB, phường ĐT, thành phố PY, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 2.880.000 đồng. Tuy nhiên, Lê Văn C, Lục Mạnh C, T, T đều chưa có tiền án, tiền sự hoặc có tiền án nhưng đã được xóa án tích nên hành vi của các đối tượng trên hông cấu thành tội phạm; Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên để xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn C, Nguyễn Văn T, Lục Mạnh C, Bùi Văn T theo quy định. Đối với Đỗ Văn K bị xử phạt về hành vi dùng chỗ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc.
Đối với anh Trương Văn Tám là người có mặt ở nhà ông Đỗ Văn K tại thời điểm cơ quan Công an phát hiện vụ việc đánh bạc. Tuy nhiên, anh Tám không tham gia đánh bạc mà chỉ ngồi xem các đối tượng đánh bạc nên Cơ quan điều tra hông xử l .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
2.1 Về hình phạt chính:
- Áp dụng: hoản 1 Điều 321; điểm s hoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng: hoản 1 Điều 321; điểm i, s hoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 05/4/2023.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
2.2 Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Tiến D và Hoàng Văn H mỗi bị cáo 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu nhựa màu xanh; 01 mũ vải màu xanh; 01 bộ bài tú lơ hơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong phong bì hiệu B;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 2.880.000 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền: 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tiến D số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), tuy nhiên tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại Quyết định chuyển vật chứng số: 83/QĐ-VKSPY ngày 14 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng biên bản giao nhận vật chứng, giấy ủy nhiệm chi kèm theo)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản l và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H mỗi bị cáo pH chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công hai sơ thẩm, báo cho bị cáo Nguyễn Tiến D, Hoàng Văn H biết có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.
Anh Lê Văn C, anh Nguyễn Văn T, anh Lục Mạnh C, anh Bùi Văn T, ông Đỗ Văn K vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Phổ Yên; - Công an TP. Phổ Yên; - Chi cục Thi hành án TP. Phổ Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - UBND xã nơi các bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng hác; - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Minh Quang |