- Tranh chấp gì? án hình sự — "VI VAN D PHAM TOI TANG TRU TRAI PHEP CHAT MA TUY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn Đ phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 107/2023/HS-ST Ngày 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Tâm;
2. Ông Lê Bá Quyền;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXXST-HS ngày 28/4/2023 đối với bị cáo:
Vi Văn Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Bản N, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Vi Văn T (chết) và bà Lô Thị M, sinh năm 1964; bị cáo có vợ tên Vi Thị A; có một con sinh năm 2011; có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; tiền sự: Không; tiền án: Bị cáo có một tiền án, ngày 16/9/2016 bị Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Ông Lương Văn L, sinh năm 1981; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Vi Văn Đ là đối tượng nghiện ma tuý, loại ma tuý bị cáo sử dụng là Heroine. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 10/11/2022 do có nhu cầu sử dụng ma tuý, bị cáo Vi Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 37U1-4242 từ phòng trọ thuộc phường M, thị xã B đến khu vực khu công nghiệp Đại Đăng thuộc phường P, thành phố T gặp người thanh niên tên T (không rõ lai lịch) mua 800.000 đồng ma tuý được đựng trong 03 đoạn ống hút nhựa màu vàng hàn kín hai đầu. Sau khi nhận ma tuý từ T bị cáo cất vào gói thuốc Jet rồi để vào túi quần trước bên phải điều khiển xe về phòng trọ. Khi bị cáo đi đến khu vực gần vòng xoay Kim Hằng thuộc phường K, thị xã T thấy anh Lương Văn L đang đi bộ, bị cáo hỏi anh L có đi xe ôm không thì anh L đồng ý đi và yêu cầu bị cáo chở về Khu dân cư Phúc Đạt thuộc phường T, thị xã T.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi bị cáo điều khiển xe chở anh L đến khu vực khu phố B, phường K, thị xã T (nay là thành phố T) thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện nghi vấn nên yêu cầu bị cáo dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của bị cáo có 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 gói thuốc Jet bên trong có chứa 03 đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng, bị cáo khai nhận tinh thể màu trắng là ma tuý bị cáo mua về để sử dụng.
Vật chứng thu giữ: 04 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 gói thuốc Jet và 01 xe mô tô biển số 37U1-4242.
Tại bản kết luận giám định số 522/KL-KTHS (MT) ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng thu giữ của bị cáo Vi Văn Đại gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0.3590 gam.
Tại Cáo trạng số 122/CT-VKS.TU ngày 17 tháng 4 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vi Văn Đ về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vi Văn Đ mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ký hiệu 522/PC09, bên trong chứa ma tuý còn lại sau khi giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Jet.
- Đối với người tên T bán ma túy cho bị cáo hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
- Đối với anh Lương Văn L không biết hành vi tàng trữ ma tuý của bị cáo nên không đề cập xử lý.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 37U1-4242 quá trình điều tra bị cáo khai mua lại vào năm 2012, không có giấy tờ. Quá trình xác minh xe mô tô trên do ông Thái Bá Đ làm chủ sở hữu nhưng hiện không xác định được ông Đ ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không có kết quả nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 10/11/2022, tại đoạn đường thuộc khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Vi Văn Đ có hành vi cất giấu 0.3590 gam ma tuý, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Xét, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Bản kết luận giám định số 522/ KL-KTHS ngày 15/11/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Như vậy, hành vi của bị cáo mua ma túy sau đó cất giấu, mục đích để sử dụng với khối lượng 0.3590 gam, loại Heroine đã đủ yếu tố cấu thành Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 122/CT-VKSTU ngày 17 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 16/9/2016, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022 chưa được xoá án tích nay lại phạm tội mới là tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nghề nghiệp, đã bị Toà án xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Xét 01 bì thư niêm phong ký hiệu 522/PC09, bên trong chứa ma tuý còn lại sau khi giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Jet không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với người tên T bán ma túy cho bị cáo hiện chưa rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với anh Lương Văn L không biết hành vi tàng trữ ma tuý của bị cáo nên không đề cập xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 37U1-4242 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra không xác định được chủ sở hữu của xe mô tô trên nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn Đ phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vi Văn Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong ký hiệu 522/PC09, bên trong chứa ma tuý Heroine còn lại sau khi giám định và 01 vỏ bao thuốc lá Jett.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô Wavea biển số 37U1-4242 màu đỏ đen bạc, số khung 9AY-041646, số máy 12E-2541702.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Vi Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Tân Uyên (01); - Công an thành phố Tân Uyên (02); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh BD (01); - Lưu: VT, HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Quyết |