vanban.org

Bản án 107/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Thụy Tường V 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thụy Tường V cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 107/2023/HS-ST
Ngày: 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Lệ Chi;

2. Bà Phạm Tú Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2023/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Lê Thụy Tường V, sinh năm 1980 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 8/6 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Lê Văn Ph, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Kim Ph, sinh năm 1958; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1982; bị cáo có chồng tên Dương Thanh S, sinh năm 1972, có 02 con ruột, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Ấp V Kh 2, xã V X, huyện Tr Ô, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: 14/7 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn Ư (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th (đã chết); bị cáo có 07 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1964, nhỏ nhất sinh năm 1983; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1962, có 01 con ruột, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.

3. Bà Nguyễn Kim Ph, sinh năm 1958 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số 8/6 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết); bị cáo có 06 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1957, nhỏ nhất sinh năm 1975; bị cáo có chồng tên Lê Văn Ph, sinh năm 1958, có 02 con ruột, lớn sinh năm 1980, nhỏ sinh năm 1982; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2022 đến ngày 19/12/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn Ph, sinh năm 1958; thường trú: Số 8/6 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Anh Huỳnh Văn Thọ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Kim Ph là mẹ ruột của Lê Thụy Tường V sinh sống tại số 8/6 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Còn Nguyễn Thị Điệp thuê nhà tại số 14/7 khu phố Ng Th, phường B Thắng, thành phố D A, tỉnh Bình Dương.

Khoảng đầu năm 2022, Lê Thụy Tường V tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số đề. Sau đó, V, Ph và Điệp, thỏa thuận: Đ ăn lai 3% tiền xác (khi Đ bán cho khách là 75% trên số tiền ghi trên thơ đề, Ph tính cho Đ là 72% số tiền ghi trên thơ đề). Đ là người trực tiếp bán số đề. Vì Đ không biết nhắn tin nên số đề bán được Đ dùng điện thoại Nokia 101 màu đỏ đen sim số 0792351922 gọi cho Nguyễn Kim Ph (tên lưu trong máy của Đ là A Ph) qua máy điện thoại Oppo F5 màu đồng có sim số 0862896447. Sau đó, Ph ghi tin nhắn gửi Đ (tên lưu trong máy của Ph là N M) và gửi cho Lê Thụy Tường V (tên lưu trong điện thoại A V), số sim 0909272119 điện thoại Iphone 7 màu trắng. Tiền có được từ việc bán lô đề, V lo cho Ph ăn sáng, chi tiêu gia đình.

Anh Huỳnh Văn Th là chỗ quen biết với Nguyễn Thị Đ và biết được Đ bán số đề. Lúc 15 giờ 48 phút ngày 10/12/2022, Th đến nhà trọ của Đ tại số 14/7 khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương mua các số đề 35.47.75 đá vòng 5.000 đồng, 35.47.45 bao lô 30.000 đồng đài Thành phố Hồ Chí Minh thì Đ bán số đề theo số Th mua, số tiền Th mua số đề tổng cộng là 2.160.000 đồng.

Ngoài việc bán số đề cho Th, Đ còn bán số đề cho một con bạc khác (chưa rõ nhân thân, lai lịch), cụ thể:

+ 55, 57 đá 1000 đồng. số tiền dùng để mua đề là 36.000 đồng. Không trúng nên số tiền đánh bạc là 36.000 đồng.

+ 55, 57 bao lô 5.000 đồng. Số tiền mua đề là 180.000 đồng. Trúng 01 lô 55 được 350.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 530.000 đồng.

+ 68, 51 đá 10.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 360.000 đồng (không trúng).

+ 68, 51 bao lô 20.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 720.000 đồng (không trúng).

+ 68 đầu 100.000 đồng đuôi 100.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 200.000 đồng (không trúng).

+ 51 đầu 100.000 đồng đuôi 80.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 180.000 đồng (không trúng).

+ 59, 68 đá 10.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 360.000 đồng (không trúng).

+ 59, 68 bao lô 10.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 360.000 đồng (không trúng).

+ 53 đầu 100.000 đồng đuôi 300.000 đồng. Số tiền dùng để đánh bạc là 400.000 đồng (không trúng).

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 10/12/2022 (vừa sau giờ xổ số miền nam), Huỳnh Văn Th đang đi trên đường ĐT743 thuộc khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì bị trinh sát hình sự Công an thành phố Dĩ An kiểm tra hành chính và phát hiện trong túi quần có 01 tờ thơ đề ghi 35.47.75 đá vòng 5.000 đồng, 35.47.45 bao lô 30.000 đồng đài Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền mua số đề là 2.160.000 đồng (thực tế Th đưa cho Đ số tiền 1.620.000 đồng), trúng số đề 2.100.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Huỳnh Văn Th là 4.260.000 đồng.

Sau đó, các số đề Đ bán được nói trên, Đ gọi điện đọc số cho Ph, Ph ghi chép ra giấy rồi nhắn tin cho Đ để xác nhận và nhắn tin cho V biết đã nhận như đã thỏa thuận.

Tổng số tiền bán số đề đài Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10/12/2022 là 4.956.000 đồng (Tiền thực tế Đ nhận là 3.717.000 đồng).

Tổng số tiền trúng đề là 2.450.000 đồng.

Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Kim Ph và Lê Thụy Tường V là 7.406.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ: Số tiền 2.342.000 đồng; 06 (sáu) thơ đề (thu của Th 01 thơ đề, thu của Điệp 04 thơ đề, thu của Ph 01 thơ đề); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 101 màu đỏ đen, gắn sim số 0792351922 thu của Nguyễn Thị Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 màu đồng, gắn sim số 0862896447 thu của Nguyễn Kim Ph; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng, gắn sim số 0909272119 thu của Lê Thụy Tường V; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vsmart Live màu xanh, gắn sim số 0589139897 thu của Nguyễn Thị Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim số 0377684152 thu của Nguyễn Kim Ph.

Đối với hành vi Đánh bạc của Huỳnh Văn Th, hình thức chơi lô đề, với số tiền dùng để đánh bạc là 4.260.000 đồng, số tiền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân Th chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” nên Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 350.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với các con bạc chưa rõ nhân thân, lai lịch mua số đề của Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đang tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 122/CT-VKS-DA ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Thụy Tường V từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và các bị cáo Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph, mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

* Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 2.342.000 đồng, là số tiền dùng để đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 2.614.000 đồng là tiền các con bạc còn thiếu, cần buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ giao nộp để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 2.450.000 đồng (tiền trúng đề, các con bạc chưa nhận) cần buộc bị cáo Lê Thụy Tường V giao nộp để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 101 màu đỏ đen, gắn sim số 0792351922 thu của Nguyễn Thị Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 màu đồng, gắn sim số 0862896447 thu của Nguyễn Kim Ph; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 màu trắng, gắn sim số 0909272119 thu của Lê Thụy Tường V là công cụ phương tiện phạm tội của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động và tịch thu tiêu hủy đối với các sim số.

- Đối với 06 thơ, là vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) điện thoại Vsmart Live màu xanh, gắn sim số 0589139897 thu Nguyễn Thị Đ. Qua điều tra, xác định điện thoại và sim số không liên quan đến hành vi phạm tội của Điệp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đề nghị trả lại điện thoại và sim số trên cho Đ.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone X màu trắng, gắn sim số 0377684152 thu của Nguyễn Kim Ph. Qua điều tra xác định điện thoại này là của ông Lê Văn Ph (chồng bị can Ph), đang bị tai biến, Ph sử dụng liên lạc với người thân trong việc chăm sóc anh Ph, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại điện thoại và sim số trên cho anh Ph.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 10/12/2022, tại khu phố Ng Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số đề, thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.406.000 đồng.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đánh bạc dưới hình thức bán số đề, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc 7.406.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 122/CT-VKS-DA ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy ít nghiêm trọng, nhưng đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Xét đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và người lao động.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

+ Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú và làm việc rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và người lao động, hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 75, 76, 77/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph.

+ Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 2.342.000 đồng, là số tiền dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 2.614.000 đồng là tiền các con bạc còn thiếu, cần buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ giao nộp để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 2.450.000 đồng (tiền trúng đề, các con bạc chưa nhận) cần buộc bị cáo Lê Thụy Tường V giao nộp để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 101 màu đỏ đen, gắn sim số 0792351922 thu của Nguyễn Thị Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 màu đồng, gắn sim số 0862896447 thu của Nguyễn Kim Ph; 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 màu trắng, gắn sim số 0909272119 thu của Lê Thụy Tường V là công cụ phương tiện phạm tội của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động và tịch thu tiêu hủy đối với các sim số.

- Đối với 06 thơ, là vật chứng của vụ án nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 (một) điện thoại Vsmart Live màu xanh, gắn sim số 0589139897 thu Nguyễn Thị Đ. Qua điều tra, xác định điện thoại và sim số không liên quan đến hành vi phạm tội của Điệp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại điện thoại và sim số trên cho Đ.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone X màu trắng, gắn sim số 0377684152 thu của Nguyễn Kim Ph. Qua điều tra xác định điện thoại này là của ông Lê Văn Ph (chồng bị can Ph), đang bị tai biến, Ph sử dụng liên lạc với người thân trong việc chăm sóc anh Ph, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại điện thoại và sim số cho anh Ph.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Các bị cáo Lê Thụy Tường V và Nguyễn Thị Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Kim Ph là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Kim Ph phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Thụy Tường V 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Ph 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

Hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 75, 76, 77/2023/HSST-LCĐKNCT ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào Ngân sách số tiền 2.342.000 (hai triệu ba trăm bốn mươi hai nghìn) đồng, theo Lệnh thanh toán ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Đ nộp lại số tiền 2.614.00 (hai triệu sáu trăm mười bốn nghìn) đồng, là tiền sử dụng đánh bạc để sung ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Lê Thụy Tường V nộp lại số tiền 2.450.000 (hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng, là tiền sử dụng đánh bạc để sung ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 101 màu đỏ đen, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F5 màu đồng và 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 màu trắng.

- Tịch thu tiêu hủy các sim số 0792351922, 0862896447 và 0909272119.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lê Thụy Tường V, Nguyễn Thị Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Kim Ph không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ