vanban.org

Bản án 107/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 09/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phước Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Phước Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 29/6/2023. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN PHƯỚC Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phước Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HS-ST
Ngày: 09-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Yến

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Cường

- Ông Trần Quang Đông

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bé Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 98/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Phước Q, sinh năm 1990; nơi sinh: Tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Phước L, sinh năm 1961 và bà Lê Thị T, sinh năm 1959; anh chị em ruột có 07 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1999; bị cáo có vợ Phạm Thảo V, sinh năm 1995 và có 01 con tên Trần Quốc T1, sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 6 năm 2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Ông Trần Văn Q1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 20 phút ngày 29/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra về tội phạm ma túy Công an thành phố V phối hợp cùng Công an P, thành phố V đi tuần tra làm nhiệm vụ, khi đi đến đoạn đường nhựa đối diện Công ty công trình công cộng tỉnh V thuộc Đường C, khóm N, Phường A, thành phố V thì phát hiện Trần Phước Q đang điều khiển xe mô tô biển số 64B1-142.89 có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an làm nhiệm vụ yêu cầu Q dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay phải của Q đang cầm 01 bị nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống hút nhựa sọc đỏ hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là chất ma túy. Qua làm việc, Trần Phước Q khai nhận số chất bột màu trắng bị thu giữ là chất ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật trên.

Theo kết quả giám định số: 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bịch nylon là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0328 gam; mẫu chất bột màu trắng bên trong đoạn ống hút nhựa sọc đỏ là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1019 gam; mẫu chất bột màu trắng bên trong đoạn ống hút nhựa sọc xanh là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1181 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Phước Q khai nhận: Do nghiện ma túy và muốn có ma túy để sử dụng nên khoảng 09 giờ 20 phút sáng ngày 29/6/2023, Q điều khiển xe mô tô biển số 64B1-142.89 đi một mình đến khu vực gần cầu L, thuộc Phường A, thành phố V, gặp người nam thanh niên tên M, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể hỏi mua chất ma túy với giá 350.000 đồng. Sau khi mua chất ma túy xong, Q cầm trên tay đi đến khu vực đường nhựa đối diện Công ty công trình công cộng tỉnh V thuộc Đường C, khóm N, Phường A, thành phố V thì bị lực lượng Công an bắt quả tang Q đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người nam thanh niên bán chất ma túy cho bị cáo Q tên là M, Cơ quan điều tra đã xác minh tên thật là Trần Ngọc T2, sinh năm 1987; nơi thường trú số B, Khóm A, Phường C, thành phố V. Hiện nay, T2 đang bị tạm giam về hành vi mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án khác, sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với xe mô tô biển số 64B1-142.89, Q sử dụng đi mua ma túy không phải là tài sản của Q. Qua tra cứu và xác minh xe 64B1-142.89 là tài sản của bà Lê Thị T, sinh năm 1959; nơi cư trú ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, bà T mua của bà Lê Thị Bích N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số B, Tổ B, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long để sử dụng và không có làm giấy mua bán hay sang tên, hiện nay bà Lê Thị Bích N đang đứng tên giấy đăng ký xe. Bà T không biết việc Q sử dụng xe để đi mua ma túy và tàng trữ ma túy, Cơ quan điều tra đã làm việc rõ và đã trả tài sản cho bà T.

Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long: 01 phong bì niêm phong số 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V là chất ma túy sau giám định.

Tại Bản Cáo trạng số: 95/CT-VKSTPVL ngày 12/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Trần Phước Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và phát biểu quan điểm các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Phước Q 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy một 01 phong bì niêm phong số 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo Q không có việc làm ổn định, không có thu nhập; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

- Lời trình bày của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận, trong phần nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Phước Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy và muốn có ma túy để sử dụng nên khoảng 09 giờ 20 phút ngày 29/6/2023 điều khiển xe mô tô biển số 64B1-142.89 đi một mình đến khu vực cầu L, thuộc Phường A, thành phố V và gặp người nam thanh niên tên M, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể để mua chất ma túy với giá 350.000đồng để sử dụng. Sau khi mua chất ma túy xong, Q cầm trên tay 01 bịch nylon trong suốt bên trong có chứa chất bột màu trắng, đi đến khu vực đường nhựa đối diện Công ty công trình công cộng tỉnh V thuộc Đường C, khóm N, Phường A, thành phố V thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật trên. Theo kết quả giám định số 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong bịch nylon là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,0328 gam; mẫu chất bột màu trắng bên trong đoạn ống hút nhựa sọc đỏ là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1019 gam; mẫu chất bột màu trắng bên trong đoạn ống hút nhựa sọc xanh là ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1181 gam. Hành vi của bị cáo như trên đã cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", loại: Heroin và Methamphetamine cho nên tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Heroin, M1 là chất gây nghiện cho người sử dụng, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng về sức khỏe. Do ma túy có nhiều tác hại nên pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép. Việc nghiện ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, đặc biệt nghiêm trọng như trộm cắp, cướp giật tài sản, giết người gây hoang mang, lo lắng cho gia đình và xã hội. Bản thân bị cáo Q là người có đủ khả năng nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại nhưng vẫn thực hiện một cách cố ý tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng. Với hành vi phạm tội này cần phải xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, lại tiếp tục phạm tội, tuy nhiên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà nhận tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đây là loại tội phạm ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội hơn nữa bản thân bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô biển số 64B1-142.89 đã qua sử dụng mang tên Lê Thị Bích N, quá trình điều tra bà N xác định tháng 7/2021 đã bán lại cho bà T, khi bán không làm giấy tờ mua bán, sang tên. Bà Lê Thị T xác định bà mua xe mô tô BS 64B1-142.89 từ năm 2021 mục đích để sử dụng, sau khi mua chưa làm thủ tục sang tên xe. Việc bị cáo Q mượn xe mục đích đi mua ma túy và tàng trữ ma túy thì bà T không biết. Tại cơ quan điều tra, bà T đã được hoàn trả lại xe mô tô trên theo yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số: 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V là chất ma túy sau giám định.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Phước Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Phước Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 29/6/2023.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/10/2023 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long được xử lý như sau:

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong số 468/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh V;

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Phước Q nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ