- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyền Hững H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HS-ST. Ngày: 10 - 8- 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Quách Công Cầm
Ông Nguyễn Phương Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông H Văn Điệp - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2023/TLST- ST ngày 07 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu H; tên gọi khác: Không, sinh năm 1994, sinh tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Kh, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Hồng H, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 03/02/2020, TAND huyện M, tỉnh Sơn La áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS xử phạt Nguyễn Hữu H 20 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và phải chịu án phí HSST 200.000 đồng. Nguyễn Hữu H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2022, nộp xong án phí HSST ngày 24/3/2021.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 03/4/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tường A, sinh năm; 1995; Trú tại: Bản B, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu H, sinh năm 1994, trú tại: Bản B, xã Mường S, huyện M, tỉnh Sơn La là đối tượng sử dụng chất ma túy. Ngày 01/4/2023, H kết bạn qua ứng dụng Facebook với một tài khoản tên là “Phương Minh”. Qua nói chuyện người đó tự giới thiệu là nữ, tên Ph, sinh năm 1996, nhà ở khu trung tâm hành chính huyện V, tỉnh Sơn La. Đến sáng ngày 02/4/2023, Ph nhắn tin hẹn gặp H và bảo H đi mua ma túy, loại Hồng phiến để khi gặp sẽ cùng nhau sử dụng, H đồng ý. Sau đó, Ph đã gửi số điện thoại 0822.724.096 bảo H liên hệ với người đàn ông tên C để mua ma túy. Đến khoảng 21 giờ ngày 02/4/2023, H gọi điện thoại di động đến số 0822.724.096 hỏi mua của C 05 viên hồng phiến với giá 200.000 đồng. C đồng ý và hẹn gặp H tại khu vực cổng chào của huyện M để giao nhận ma túy. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển chiếc xe máy BKS: 26G1- 108.86 đi đến địa điểm đã hẹn thì Cường báo chuyển địa điểm nên H tiếp tục đi đến trước cổng trung tâm đăng kiểm xe cơ giới tỉnh Sơn La, chi nhánh tại bản Ch, xã V, huyện V để gặp C. Khi đến nơi, C gặp và dẫn H đi vào đường dân sinh cách đó khoảng 10 mét. Tại đây, H đưa cho C 200.000 đồng, C nhận tiền rồi đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse bên trong đựng 01 gói nilon màu trắng chứa 05 viên hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, H cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về. Đến 22 giờ 00 phút ngày 02/4/2023, khi H đang đi trên đường quốc lộ 6 thuộc địa phận bản Ch, xã V, huyện V thì bị tổ công tác Công an huyện V dừng xe, kiểm tra. H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe mà tăng ga bỏ chạy về hướng huyện M. Chạy được khoảng 500m thì H ném gói ma túy xuống lề đường bên trái theo chiều đi của mình và tiếp tục bỏ chạy được khoảng 500m nữa thì bị tổ công tác đuổi kịp, giữ lại để kiểm tra. Trước tổ công tác, H khai nhận vừa ném gói ma túy xuống khu vực lề đường gần đó. Đồng thời H đã dẫn tổ công tác đến vị trí H vừa ném gói ma túy và nhặt lên giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse bên trong đựng 01 gói nilon màu trắng chứa 05 viên nén màu hồng, bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là ma túy tổng hợp. Nguyễn Hữu H khai nhận đó là gói ma túy loại Hồng phiến của H cất giấu để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Nguyễn Hữu H, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; tạm giữ của H 01 chiếc xe máy BKS: 26G1- 108.86, 01 chiếc điện thoại di động cùng một số giấy tờ có liên quan. Đồng thời tổ công tác dẫn giải Nguyễn Hữu H về trụ sở Cơ quan CSĐT Công an huyện V để xử lý.
Ngày 03/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, VKSND huyện V cùng Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp thu giữ của Nguyễn Hữu H được tổng khối lượng là 0,5 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu là H. Mẫu giám định được bàn giao cho Phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 744 ngày 05/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu giám định ký hiệu H là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 0,5 gam Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số: 78/CT-VKS ngày 07/7/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 22 tháng tù đến 28 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số Imel: 359179072017923, bên trong có một thẻ sim số thuê bao 0886670593.
- Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu DREAM, biển kiểm soát: 26G1- 108.86 và 01 chiếc mũ bảo hiểm trên cho anh Nguyễn Tường Anh quản lý sử dụng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 02/4/2023, Nguyễn Hữu H có hành vi cất giấu trái phép 0,5 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại bản Ch, xã V, huyện V phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Hữu H đã bị kết án về tội nghiêm trọng, chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng là tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án phù hợp tương sứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Hữu H đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy là vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số Imel: 359179072017923, bên trong có một thẻ sim số thuê bao 0886670593 là tài sản của bị cáo sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trả lại đối với chiếc xe máy nhãn hiệu DREAM, biển kiểm soát: 26G1- 108.86 và 01 chiếc mũ bảo hiểm là tài sản của anh Nguyễn Tường A. Bị cáo sử dụng tài sản trên làm phương tiện phạm tội anh A không biết và không liên quan, do vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trả lại tài sản trên cho anh Nguyễn Tường A là có căn cứ đúng quy định.
Về nguồn gốc chất ma túy: Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao 0822724096 là anh Lường Xuân M, sinh năm: 1957, trú tại: Bản P, xã M, huyện V, tỉnh Sơn La. Anh Lường Xuân M không sử dụng số điện thoại trên. Nguyễn Hữu H khẳng định anh Lường Xuân M không phải là người đàn ông tên C đã bán ma túy cho H. Kết quả xác minh trên địa bàn tiểu khu S, xã V, huyện V không có người phụ nữ nào tên là Ph có đặc điểm như H khai. Do H không biết tên tuổi, địa chỉ người bán ma túy cho H và người phụ nữ tên Phương. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số Imel: 359179072017923, bên trong có một thẻ sim số thuê bao 0886670593.
- Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã quyết định trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu DREAM, biển kiểm soát: 26G1- 108.86 và 01 chiếc mũ bảo hiểm trên cho anh Nguyễn Tường A quản lý sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 112/BBVC-CCTHA ngày 18/7/2023.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |