- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Nh - Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặ…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Văn Nh cho Ủy ban nhân dân xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HS-ST Ngày: 28-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Hữu Thỏa.
2. Ông Đậu Cao Nhu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Nh (tên gọi khác: không); sinh năm 1975 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn Sơn Hải, xã T Th, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Đánh cá; trình độ học vấn: lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L (chết) và bà: Trần Thị Qu (chết); vợ: Trần Thị N và 05 con, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: từ ngày 26/02/2023 đến ngày 04/3/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Trần Thị N, sinh năm 1978. Nơi cư trú: thôn Sơn Hải, xã T Th, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1976. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để kiếm lời, tháng 10/2022, Nguyễn Văn Nh mua của một người phụ nữ 04 (bốn) túi thuốc nổ với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại khu vực cánh đồng phường Quỳnh Xuân, thị xã Hoàng Mai, đưa về cất giấu tại chuồng nuôi hươu của gia đình (thôn Sơn Hải, xã T Th, huyện Quỳnh Lưu). Ngày 26/02/2023, có một người đàn ông gọi đến số điện thoại 0977234802 của Nh hỏi mua thuốc nổ, Nh đồng ý bán với giá 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) và hẹn địa điểm giao thuốc nổ. Nh để thuốc nổ lên giá xe mô tô Airblade biển số 37L2-139.60, điều khiển xe đi đến điểm hẹn. Khi Nh đi đến đoạn đường thuộc thôn Minh Sơn, xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu, thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu bắt quả tang, thu giữ 01 (một) túi potylen màu đen bên trong có 04 (bốn) túi potylen màu trắng, trong mỗi túi màu trắng có 10 (mười) thỏi chất rắn màu nâu, hình trụ tròn và 01 (một) xe mô tô biển số 37L2-139.60.
Tại Kết luận giám định số 176/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 03/3/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận “Các mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3, M4 thu giữ của Nguyễn Văn Nh gửi giám định đều là thuốc nổ công nghiệp (thuốc nổ Amonit AD1)”, có khối lượng 08 (tám) kilogam.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 96/CT-VKS-P1 ngày 09/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn Nh về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18-24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36-48 tháng.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 7,2kg thuốc nổ; tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme; trả lại cho chị Trần Thị N 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm sát 37L2-139.60.
Án phí: bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Nh thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có điều kiện cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, làm người có ích.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: xin được nhận lại xe máy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Nh khai nhận: để có thuốc nổ bán lại kiếm lời, tháng 10/2022 bị cáo mua 08 (tám) kilogam thuốc nổ Amonit AD1 với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng), về cất dấu tại chuồng hươu của gia đình, đến ngày 26/02/2023 đưa đi bán với giá 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) thì bị tổ công tác Công an huyện Quỳnh Lưu bắt quả tang tại thôn Minh Sơn, xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép vật liệu nổ, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng và chế độ độc quyền, thống nhất quản lý chất nổ của Nhà nước, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý, vì mục đích thu lợi bất chính. Như vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong cuộc sống hàng ngày tích cực trong mọi hoạt động của thôn xóm, có công tham gia phòng chống cháy rừng trên địa bàn xã T Th (có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T Th), mặc dù bản thân có hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn góp công xây dựng sửa chữa nhà cho hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn xã giai đoạn 2023-2025 (Giấy chứng nhận Ban chỉ đạo 110 xã T Th). Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Bị cáo phạm tội chưa thu lợi, có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích, xử phạt bị cáo với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Hình phạt bổ phải sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 305 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…” Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không phạt tiền bổ sung.
Biện pháp tư pháp: 7,2kg (bảy phẩy hai ki lo gam) thuốc nổ Amonit còn lại sau khi lấy mẫu giám định, là vật liệu nổ Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 64, 66, 69 và 70 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu, sung ngân sách nhà nước. 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm sát 37L2-139.60 của vợ chồng bị cáo sử dụng phục vụ nhu cầu sinh hoạt đi lại hàng ngày nên trả lại cho vợ chồng bị cáo.
Một số vấn đề khác: Kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục đấu tranh làm rõ hành vi của người bán, người mua thuốc nổ của bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự: Bị cáo là đối tượng được hưởng chính sách hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nh 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, về tội: Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Nh cho Ủy ban nhân dân xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, các Điều 64, 66, 69 và 70 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ: tịch thu, tiêu hủy 7,2kg (bảy phẩy hai kilogam) thuốc nổ Amonit, hiện đang được bảo quản tại Kho K70 - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An (theo Biên bản bàn giao vật chứng và Lệnh Nhập kho số 03/2023 ngày 07/4/2023). Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu phối hợp với Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Kho K70, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Nghệ An và các cơ quan chức năng có thẩm quyền phối hợp xử lý, thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Nh và chị Trần Thị N 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade biển kiểm soát 37L2-139.60 (tình trạng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/6/2023 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu).
3. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH 14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã T Th (để biết); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ + Lưu trữ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |