- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn L. Tiêu thụ tài sản - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HS-PT Ngày: 28-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý Số 89/2023/TLPT-HS ngày 08/5/2023 đối với bị cáo Trần Văn L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Trần Văn L; sinh năm: 1987 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn 2, xã ML, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang Đích, con bà Nguyễn Thị H; vợ Hoàng Thị L; bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 18/2009/HSST ngày 15/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 17 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 15/4/2009 về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 10/10/2022 Huỳnh Văn Tâm (Nhọn) sinh năm 1994, trú tại Ấp Hậu Giang 2, xã Tân Hòa, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đi lang thang quanh khu vực Thôn 2, xã ML, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng, Tâm phát hiện nhà ông Đỗ Trung Sinh có tài sản để ngoài vườn lagim. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 11/10/2022 Tâm đến nhà ông Sinh, Tâm đẩy cửa đi vào trong sân lấy 01 máy cắt sắt cầm tay hiệu Makita màu đỏ và một máy cắt sắt để bàn hiệu Ken rồi đi men theo vườn cà phê qua một con suối để đi đến nhà Trần Văn L sinh năm 1987, trú tại Thôn 2, xã ML, huyện LH (trước đây Tâm có hái cà phê thuê cho nhà Lịch nên quen biết). Khoảng 07 giờ sáng ngày 11/10/2022 Tâm gọi Lịch thì Lịch đi ra sân, Tâm hỏi anh Lịch có mua máy cắt sắt không, Lịch hỏi “đồ ăn trộm à”, Tâm nói “vâng”. Lịch nhận thức được đồ ăn trộm nên nói không mua, nhưng Tâm nói “em kẹt tiền về quá, anh mua cho em” nên Lịch đồng ý và hỏi giá bao nhiêu, Tâm nói 500.000đ. Lịch quay vào nhà lấy tiền và đưa thêm cho Tâm 300.000đ để có tiền về quê. Lịch nói Tâm mang xuống dốc có cây vú sữa và để máy ở đó. Khi cất máy cho Lịch xong thì Tâm đi bộ về hướng thị trấn Nam Ban. Khoảng gần 08 giờ cùng ngày Lịch đi có việc, khi đi đến gần Trạm y tế xã Mê Linh thấy Tâm đi bộ nên Lịch chở Tâm ra gần Ngân hàng nông nghiệp thị trấn Nam Ban để Tâm ở đây sau đó Lịch đi công việc còn Tâm đi đâu Lịch không biết. Đến ngày 13/10/2022 Công an xã Mê Linh mời Lịch lên làm việc Lịch đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 13/10/2022 Huỳnh Văn Tâm bị bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Vật chứng thu giữ: 01 máy cắt sắt cầm tay hiệu Makita màu đỏ và một máy cắt sắt để bàn hiệu Ken; 01 bao tải màu đỏ có dính sơn trắng; 01 bình xịt sơn màu đen cầm tay trên thân bình có chữ KUROBUSHI; số tiền 400.000đồng (BL: 133, 134).
Kết luận định giá tài sản số 73/KL - HĐĐG ngày 14/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Hà kết luận: 01 máy cắt sắt cầm tay hiệu Makita màu đỏ và một máy cắt sắt để bàn hiệu Ken có tổng trị giá 4.845.000đồng (BL: 110, 111).
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đỗ Trung Sinh đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường (BL: 122).
Cáo trạng số 27/CT - VKSLH ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị cáo Huỳnh Văn Tâm về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Trần Văn L về tội: “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS 2015)
Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2022/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử;
Tuyên bố Huỳnh Văn Tâm (Nhọn) phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Trần Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Tâm (Nhọn) 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày (13/10/2022).
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/4/2023, Trần Văn L kháng cáo xin hưởng hình phạt khác nhẹ hơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà đã tuyên xử đối với bị cáo, đồng thời, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, xuất trình xác nhận của chính quyền địa phương về điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố tham gia quân ngũ hiện già yếu, bệnh tật.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Toà án trong hạn luật định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
[2] Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 11/10/2022 bị cáo Huỳnh Văn Tâm đã lén lút chiếm đoạt 01 máy cắt sắt cầm tay hiệu Makita màu đỏ và một máy cắt sắt để bàn hiệu Ken của ông Đỗ Trung Sinh tại Thôn 2, xã ML, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi chiếm đoạt được tài sản do quen biết với Trần Văn L nên bị cáo đã đi men theo vườn cà phê qua một con suối đến nhà Lịch để tiêu thụ tài sản vừa trộm cắp nói trên. Bị cáo Lịch biết tài sản do Tâm trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý mua. Trị giá 02 máy cắt sắt Tâm đã trộm cắp có giá là 4.845.000đ, đã được thu hồi trả lại cho bị hại.
[3] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà đã xét xử. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, HĐXX thấy rằng, khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo 09 tháng tù, là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình Văn bản của Bộ tư lệnh quân khu 7 xác nhận bố đẻ của bị cáo có thời gian tham gia công tác trong quân đội, hiện đang bị bệnh tật, già yếu, bị cáo là lao động duy nhất trực tiếp chăm sóc bố mẹ. Hơn nữa tài sản do bị cáo Tâm trộm cắp bán cho bị cáo đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS 2015, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những nhận định trên, HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Bị cáo phải không chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn L, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (28-6-2023)
Giao bị cáo Trần Văn L cho Ủy ban nhân dân xã ML, huyện LH, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Lâm Hà (04); - VKSND huyện Lâm Hà (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Lâm Hà (01); - Cơ quan THAHS huyện Lâm Hà (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (03); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hữu Hồng |