- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim A ly hôn Huỳnh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Kim A đối với Anh Huỳnh H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2023/HNGĐ-ST Ngày 26-4-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tân
- Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Lƣơng Thành;
+ Bà Lƣơng Thị Kim Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Phan Duy Công – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 325/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 03 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/ QĐ-HPT, ngày 03/4/2023, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim A; Sinh năm 1997.
Trú tại: Ấp NP, xã BN, huyện D, tỉnh T.
- Bị đơn: Anh Huỳnh H; Sinh năm 1994.
Trú tại: Khối phố TH, phường ĐN, thị xã Đ, tỉnh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo Đơn khởi kiện ngày 04/11/2022, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị Kim A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị A và Anh Huỳnh H kết hôn vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường ĐN, thị xã Đ, tỉnh Q. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với gia đình nhà chồng tại khối phố TN, phường ĐN, thị xã Đ, tỉnh Q.Trong quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung giữa hai vợ chồng, Anh H thường xuyên đánh đập, ngược đãi Chị A và các con. Từ tháng 02/2022 đến nay, chị Anh cùng các con đã về nhà cha mẹ ruột tại Ấp NP, xã BN, huyện D, tỉnh T để sinh sống và vợ chồng không còn sống chung từ đó đến nay. Hôn nhân không hạnh phúc lâm vào tình trạng trầm trọng không thể hàn gắn được. Nay, Chị A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, Chị A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Huỳnh H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống có 02 con chung là:
- Huỳnh Ngọc Bảo T; Sinh ngày 11/01/2021.
- Huỳnh Ngọc Bảo U; Sinh ngày 29/4/2022.
Khi ly hôn Chị A có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con Huỳnh Ngọc Bảo T và Huỳnh Ngọc Bảo U đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu Anh Huỳnh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có.
2. Bị đơn Anh Huỳnh H vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh nhiều lần nhưng vẫn ông vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương, nơi cư trú và tại nhà Anh Huỳnh H và tống đạt, niêm yết các thủ tục tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Anh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn đã xác định quan hệ tranh chấp, thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; quyền, lợi ích của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa các đương sự là có thật; Chị A và Anh H thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, cãi vả. Anh H hay đánh đập bà. Vợ chồng ly thân từ tháng 02/2022 đến nay, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 5 Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc ly hôn giữa Chị Lê Thị Kim A và Anh Huỳnh H; Giao hai con chung là Huỳnh Ngọc Bảo Trân và Huỳnh Ngọc Bảo Uyên cho Chị A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi thành niên (đủ18 tuổi) và Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Anh không yêu cầu. Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Đơn khởi kiện của Chị Lê Thị Kim A về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn với Anh Huỳnh H đảm bảo hình thức, nội dung quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn Anh Huỳnh H cư trú tại khối phố Tứ Hà, phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nên Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim A và Anh Huỳnh H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Việc kết hôn của Chị A và Anh H đảm bảo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên được thừa nhận và làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng. Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do Anh H hay đánh đập, ngược đãi Chị A và các con, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cải vả. Hiện tại Chị A và Anh H đã không sống chung từ tháng 02/2022 đến nay. Vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm không còn và mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những chứng cứ đã phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với Anh Huỳnh H.
Về con chung: Chị Lê Thị Kim A và Anh Huỳnh H có 02 con chung là Huỳnh Ngọc Bảo T và Huỳnh Ngọc Bảo U, Chị A có nguyện vọng được nhận nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi hai cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị A không yêu cầu Anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử nhận thấy hai con chung hiện tại Chị A là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị A đã làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc cho hai con, hiện nay Chị A có thu nhập ổn định đủ để nuôi dưỡng hai cháu. Hiện tại, cả hai cháu đang sinh sống bình thường, phát triển tốt, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của các cháu nên cần thiết để Chị A tiếp tục nuôi dưỡng các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cả hai con chung là Huỳnh Ngọc Bảo T và Huỳnh Ngọc Bảo U cho Chị A chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Chị A không yêu cầu Anh Huỳnh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.
Chị A không được cản trở Anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị A khai không có tài sản chung. Do Anh H vắng mặt nên Tòa án không giải quyết, nếu sau này Anh H có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Chị Lê Thị Kim A tự nguyện chịu toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm. Anh Huỳnh H không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 ban hành ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Kim A đối với Anh Huỳnh H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim A được ly hôn với Anh Huỳnh H.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Ngọc Bảo T, sinh ngày 11/01/2021
và cháu Huỳnh Ngọc Bảo U, sinh ngày 29/4/2022 cho Chị A trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị A không yêu cầu Anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Lê Thị Kim A tự nguyện chịu toàn bộ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Chị A đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0001436 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Chị A đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Quảng Nam; - VKSND thị xã Điện Bàn; - Các đương sự; - UBND p. Đ; - Chi cục THADS thị xã Điện Bàn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tân |