vanban.org

Bản án 107/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Kim Đ - Phan Văn P"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:107/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/6/2023
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh

2. Ông Huỳnh Văn Hoàn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Minh Đang - cán bộ Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.

Trong ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số: 177/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2023 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 05/6/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim Đ, sinh năm 1980. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Phan Văn P, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 1, Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị Kim Đ trình bày:

Tôi và ông Phan Văn P là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L ngày 23/4/2001, sau khi cưới thì vợ chồng tôi sống bên gia đình chồng. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P thường xuyên nhậu nhẹt về say lại quậy và đánh đập vợ, cuộc sống vợ chồng có nhiều xung đột, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng, nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, nên tôi có yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Tôi yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn P.

- Về con chung: có 02 con chung là Phan Thị Kim T, sinh ngày 29/7/2001 và Phan Văn Hữu T, sinh ngày 08/11/2006. Đối với cháu Kim T đã trưởng thành nên tôi không yêu cầu giải quyết, đối với cháu Toàn tôi yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Phan Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ tranh chấp: Đây là quan hệ tranh chấp “Xin ly hôn” theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Bị đơn Phan Văn P có địa chỉ tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông P. Bà Phan Thị Kim Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt bà Đ.

Về yêu cầu khởi kiện: Bà Phan Thị Kim Đ và ông Phan Văn P chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/4/2001 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới thì vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ruột ông P, đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, theo bà Đ trình bày thì nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông P thường xuyên nhậu say về đánh đập vợ con và đập phá đồ đạc trong nhà, nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, mặc dù đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng và khuyên nhủ ông P bỏ rượu để lo làm ăn nhưng không được, nên bà Đ có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P. Xét thấy, ông Phan Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không trình bày ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Đ, từ đó thấy rằng mâu thuẫn giữa bà Đ và ông P không thể hàn gắn được và ông P cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông P là trầm trọng theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đ, cho bà được ly hôn với ông P.

- Về con chung: có 02 con chung là Phan Thị Kim T, sinh ngày 29/7/2001 và Phan Văn Hữu T, sinh ngày 08/11/2006. Đối với cháu Kim T đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với cháu Toàn bà Đ yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu và ông P không có ý kiến về tranh chấp nuôi dưỡng con chung. Nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung là cháu Phan Văn Hữu T cho bà Đ chăm sóc nuôi dưỡng. Ông P chưa phải cấp dưỡng nuôi con do bà Đ chưa có yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: bà Đ trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Phan Thị Kim Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Phan Thị Kim Đ.

Về hôn nhân: Cho bà Phan Thị Kim Đ được ly hôn với ông Phan Văn P.

2/. Về con chung: Giao cháu Phan Văn Hữu T, sinh ngày 08/11/2006 cho bà Phan Thị Kim Đ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Phan Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phan Văn P được quyền tới lui thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản ông P thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3/. Về án phí: Bà Phan Thị Kim Đ phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017463 ngày 11/4/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, xem như đã nộp xong án phí.

4/. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ