vanban.org

Bản án 107/2023/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Y đối với anh Huỳnh Văn B

Về con chung: Chị Đặng Thị Y có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh Huỳnh Văn B cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung tên Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Anh Hu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Y đối với anh Huỳnh Văn B
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2023/HN-ST
Ngày: 24/7/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Hiền.

2. Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hiển – kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 492/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Y, sinh năm 1981 (yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn B, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2022, bản tự khai, trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Đặng Thị Y trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn B cưới nhau vào năm 2001 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/10/2007. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Nguyên nhân chị yêu cầu ly hôn với anh B là do thời gian đầu sống chung hạnh phúc, thời gian sau này thì hai bên phát sinh mâu thuẫn, không cùng quan điểm, không còn tiếng nói chung, anh B không biết chăm lo cho gia đình, ghen tuông vô cớ, khắc khe trong vấn đề kinh tế, thậm chí hai bên có xảy ra xô xát, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân. Chị và anh B đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị xác định không còn tình cảm với anh B và nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Văn B.

Về con chung: có 02 con chung tên Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 và Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008. Từ khi sống ly thân đến nay con chung do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008 và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung; Còn cháu Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 đã trưởng thành nên chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Huỳnh Văn B không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị Y, không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên không có lời trình bày.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về thủ tục tố tụng: Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Y đối với anh Huỳnh Văn B. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung; riêng con chung tên Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 đã trưởng thành nên chị Y không yêu cầu giải quyết, đề nghị không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: không có nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đặng Thị Y vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Văn B được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh B.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Y và anh Huỳnh Văn B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 23/10/2007. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị Y và anh B chung sống hạnh phúc được khoản thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh B không biết chăm lo cho gia đình, ghen tuông vô cớ làm cho vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị cũng tìm biện pháp giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Chị Y và anh B đã sống ly thân từ tháng 6/2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân hai bên không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh B vắng mặt không có lý do, cũng không gửi văn bản thể hiện ý kiến muốn hàn gắn tình cảm với chị Y. Điều đó thể hiện anh B đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Qua đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh B là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị Y với anh B là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008 từ khi chị Y và anh B sống ly thân, cháu T vẫn do chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời, cháu T có nguyện vọng sống chung với chị Y. Do đó, để ổn định tâm lý và sự phát triển bình thường của con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung của chị Y là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận; Chị Y nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng con chung tên Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị Đặng Thị Y có nghĩa vụ nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Y đối với anh Huỳnh Văn B

2. Về con chung: Chị Đặng Thị Y có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Ngọc T, sinh ngày 25/10/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Y không yêu cầu anh Huỳnh Văn B cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung tên Huỳnh Văn C, sinh ngày 15/9/2003 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Anh Huỳnh Văn B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Không có.

4. Về nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), chị Đặng Thị Y có nghĩa vụ phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008787 ngày 25/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Bến Tre. Án phí vụ kiện chị Y đã nộp xong.

Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ