- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đ phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2022/HS-ST Ngày 08 tháng 9 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Long.
2. Ông Nghiêm Đình Chế.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà:
Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 9 năm 2022. Tại hội trường UBND xã Đông Phong, huyện Yên Phong xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2022/TLST-HS, ngày 18 tháng 8 năm 2022. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh năm 1993; HKTT: thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T (đã chết); Và bà Nguyễn Thị T; Gia đình có 04 anh chị em, bản thân là thứ tư; Có vợ là Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1993; Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án; Tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 2000 (xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: thôn Y, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Hiện ở: thôn M, xã L, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Việt D, sinh 1989 (xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: thôn Y, xã Y, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Khoảng 08 giờ ngày 19/6/2022, tại quán “Game Top” ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong Phạm Văn Đ hỏi mượn của anh Nguyễn Duy T chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51 và được anh T đồng ý. Sau khi được anh T giao xe và chìa khóa thì Phạm Văn Đ đã nảy sinh ý định mang chiếc xe mượn của anh T đi cầm cố lấy tiền tiêu sài cá nhân. Đ đã mang chiếc xe của anh Đ đến hiệu cầm đồ “Anh D” của anh Nguyễn Việt D ở thôn Yên Lãng, xã Yên Trung để cầm cố lấy 3.500.000 đồng. Số tiền này Đ đã tiêu sài cá nhân hết nên không có khả năng trả tiền cho anh D để chuộc lại xe trả lại cho anh T.
Do không thấy Đ mang xe về trả anh T đã liên lạc nhiều lần với Đ nhưng không được, sau đó anh Đ thông báo cho anh T biết đã cầm cố chiếc xe của anh tại hiệu cầm đồ của anh D. Ngày 21/6/2022 anh T đã làm đơn trình báo sự việc gửi Cơ quan công an.
Ngày 22/6/2022 anh Nguyễn Việt D sau khi biếc chiếc xe anh cầm cố của Đ là vật chứng của vụ án anh D đã tự nguyện giao nộp chiếc xe cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS, ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận: 01 chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51, đã qua xử dụng có giá tại thời điểm định giá tháng 6/2022 là 15.000.000 đồng.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 102 ngày 17 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Phạm Văn Đ về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Văn Đ khai nhận ngày 19/6/2022 bị cáo đã hỏi mượn anh Nguyễn Duy T chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51. Sau khi được anh T giao xe và chìa khóa do không có tiền chơi Game nên bị cáo đã nảy sinh ý định mang chiếc xe của anh T đi cầm cố tại hiệu cầm đồ Anh D lấy 3.500.000 đồng để chơi Game. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án và giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, Điều 328 BLTTHS xử phạt Phạm Văn Đ từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu không bị giữ về một tội phạm nào khác.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với không gian, thời gian, đơn trình báo và lời trình bày của người bị hại, lời khai của người làm chứng, tang vật đã thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[ 2 ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp T quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho anh Nguyễn Duy T mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 3 ] Xét nhân thân và thái độ của bị cáo HĐXX nhận thấy. Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, được gia đình nuôi cho ăn học đến hết lớp 09/12 và đã có gia đình riêng. Bị cáo có công ăn viecj làm và thu nhập nhưng với bản chất thích ăn chơi và để có tiền nhằm thỏa mãn cho những nhu cầu ích kỷ của bản thân ngày 19/6/2022 bị cáo lợi dụng sự quen biết để mượn của anh Nguyễn Duy T chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51 trị giá 15.000.000 đồng rồi đem đi cầm cố lấy 3.500.000 đồng để thỏa mãn thú chơi Game. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho anh T mà còn thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong truy tố bị cáo về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét thấy cần có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tội đã đến Công an đầu thú, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục đối với cáo cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[ 4 ] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Duy T có đơn xin vắng mặt tại phiên toà. Theo đơn trình báo và lời khai của anh T thể hiện ngày 19/6/2022 anh có cho Phạm Văn Đ mượn chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51. Do không thấy Đ mang xe lại trả anh liên lạc với Đ nhưng không được, anh đã làm đơn trình báo Cơ quan công an. Anh T xác nhận quá trình điều tra đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe bị mất, anh đã nhận lại tài sản đầy đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, anh đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy đây là sự tự nguyện của người bị hại do vậy không đặt ra xem xét.
[ 5 ] Đối với anh Nguyễn Việt D là người đã cho bị cáo cầm cố chiếc xe mô tô Honda Wave Alpha BKS 37P1-801.51. Song xét thấy anh D không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Ngay sau khi biết đây là vật chứng của vụ án anh D đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại. Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh D là phù hợp.
Đối với số tiền 3.500.000 đồng anh D cho bị cáo vay khi cầm cố chiếc xe nay anh không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh do vậy không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Án dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, Điều 328 BLTTHS.
Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/9/2022.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu không bị giữ về một tội phạm nào khác.
Giao bị cáo cho UBND xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thửa thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét do tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án. Nơi nhân:
| - Toà án tỉnh. - VKS tỉnh. - VKSND huyện Yên Phong. - Các bị cáo. - Người tham gia tố tụng khác. - THA huyện Yên Phong . - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Minh Nam |