- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________ Bản án số: 107/2022/HS-ST Ngày: 30/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hường
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Hoan
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Ninh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 06 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần V N, sinh ngày 17/6/2001; Nơi sinh: Hà Nội; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: Thôn * Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số * ngõ ***/** Bồ Đề, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần X S; con bà: Hoàng T Đ; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không
Tạm giữ ngày 16/03/2022. Tạm giam ngày 25/03/2022. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn T T, sinh năm 2003
Nơi ĐKHKTT: S, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 16/3/2022, Tổ công tác Công an phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ trên địa bàn, phát hiện Trần V N đứng ở đầu ngõ 148 Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra Nam tự giác lấy từ trong túi quần phía sau bên trái đang mặc ra 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 4x8cm, bên trong túi có 02 viên nén màu hồng hình chữ nhật và 01 túi nilon nhỏ kích thước khoảng 3x3cm chứa tinh thể màu trắng. N khai đây là ma tuý “kẹo” và “ke” N mang theo để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong số ma tuý rồi đưa N về trụ sở để tiếp tục làm rõ.
Cơ quan công an thu giữ của Trần V N:
- 01 (một) túi nilon kích thước khoảng 4x8cm, bên trong túi có 02 (hai) viên nén màu hồng hình chữ nhật và 01 (một) túi nilon nhỏ kích thước khoảng 3x3cm chứa tinh thể màu trắng.
- 01 (một) điện thoại Iphone 6s màu xám lắp sim 0961762001; số IMEI: 355687071276674, điện thoại đã qua sử dụng, mặt kính màn hình góc trên bị vỡ nứt.
* Tại Bản kết luận giám định số 1780 ngày 23/03/2022 của Phòng KTHS-CATP Hà Nội:
- 02 (hai) viên nén màu hồng đều là ma tuý loại MDMA có tổng khối lượng 0,704 gam.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma tuý loại Ketamine có khối lượng 0,896 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần V N khai nhận hành vi phạm tội: Khoảng 00 giờ ngày 13/6/2022, N nói chuyện với một người nữ giới sử dụng tài khoản có tên “Little Cactus” trên phần mềm Zalo và rủ nhau cùng sử dụng ma tuý. Sau đó N liên lạc qua Facebook với người bạn tên S hỏi chỗ mua ma tuý thì S cho số điện thoại của người bán ma tuý là 085604****. N sử dụng số điện thoại 096176**** của N gọi vào số điện thoại này hỏi mua một chỉ “ke” và 02 viên “kẹo” thì người này báo giá 4.800.000 đồng tiền ma tuý, 300.000 đồng tiền vận chuyển và yêu cầu chuyển khoản. Sau đó người này gửi cho N số tài khoản 270**** mở tại Ngân hàng ACB để chuyển, và N đã chuyển khoản đủ số tiền 5.100.000 đồng vào tài khoản này. N hẹn người này giao ma tuý tại ngõ 148 Lê Trọng Tấn, một lúc sau thì có một người nam giới đi xe máy đến và đưa cho N túi ma tuý. N cất ma tuý vào túi quần phía sau bên trái đang mặc và đợi bạn đến cùng sử dụng. Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 16/3/2022 thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho N, N không biết tên, tuổi, địa chỉ, chỉ biết sử dụng số điện thoại 085604**** và tài khoản Ngân hàng ACB số 270**** mang tên NGUYEN T T. Qua xác minh số điện thoại 085604**** chủ thuê bao là anh Nguyễn M S, sinh năm 1979, trú tại: T, Thanh Oai, Hà Nội. Tại cơ quan điều tra anh S khai trước đây cho một người tên T sử dụng chiếc Sim trên. Hiện anh S không còn liên lạc với T, không biết T ở đâu, làm gì.
Qua xác minh tài khoản khoản Ngân hàng ACB số 270**** là của Nguyễn T T, sinh năm 2003, HKTT: S, Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, đăng ký sử dụng. Tại cơ quan điều tra T khai: T làm việc tại quán gà ủ muối của anh Phạm N Đ, sinh năm 1995, HKTT: S, Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ và có đăng ký số tài khoản 270**** tại Ngân hàng ACB phục vụ việc buôn bán. Ngày 16/3/2022 tài khoản của T có nhận được 02 lần chuyển tiền. Lần 1 là: 4.800.000 đồng; lần 2 là: 300.000 đồng từ tài khoản tên N. Do thời gian đã lâu nên T không biết ai chuyển và mục đích chuyển, T nghĩ là tiền khách hàng chuyển cho T khi buôn bán gà.
Đối với số điện thoại N khai liên lạc mua ma tuý là 085604****, Nguyễn T T khai đây là số điện thoại của T sử dụng để liên lạc buôn bán gà. Ngày 16/3/2022 T có nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 096176**** nhưng T không nhớ nội dung. T không quen biết ai tên Trần V N và không thừa nhận việc bán ma tuý cho N. Căn cứ vào các tài liệu, chứng chứ thu thập được, không đủ căn cứ chứng minh Nguyễn T T là người bán ma tuý cho Trần V N, do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với người tên S cho Trần V N số điện thoại để liên lạc mua ma tuý, N không biết tên, tuổi, địa chỉ của S vì N chỉ quen S qua mạng xã hội Facebook. Sau khi liên lạc với S, N xoá hết nội dung cuộc nói chuyện và không còn lưu giữ thông tin gì với S. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch người này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với người sư dụng Zalo “Little Cactus” rủ N sử dụng ma tuý, Nkhông biết tên thật, địa chỉ của người này. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân, lai lịch người này, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc điện thoại thu giữ của N, N khai là tài sản của cá nhân N. N sử dụng chiếc điện thoại để liên lạc mua ma tuý. Cơ quan điều tra chuyển chiếc điện thoại đến Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSTX ngày 15/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Trần V N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần V N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng và mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt mức án nhẹ nhất. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Trần V N từ 13 đến 16 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần V N do bị cáo không có công việc ổn định.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong của Công an phường Khương Mai, chữ ký của giám định viên Trần Huy Vũ, cán bộ Công an phường Trần Tuấn Hưng và đương sự Trần V N, bên trong có 02 viên nén màu hồng là MDMA có khối lượng 0,350 gam (thu giữ ban đầu 0,704 gam, đã trích mẫu giám định 0,354 gam) và 0,839 gam Ketamine (thu giữ ban đầu 0,896 gam, đã trích mẫu giám định 0,057 gam).
- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám đã qua sử dụng, mặt kính màn hình góc trên bị vỡ nứt, Số IMEI: 355687071276674 bên trong lắp sim số 0961762001, số seri sim: 8984 0480 0001 7220 748.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng) từ tài khoản Ngân hàng ACB 2704301 mang tên Nguyễn T T.
Tại phiên tòa bị cáo Trần V N thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ nhất mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi bị truy tố:
Tại các Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 1780/KLGĐ-PC09 ngày 23/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và cùng các tài liệu chứng cứ khác thể hiện:
Khoảng 02 giờ 15 phút ngày 16/3/2022 tại khu vực đầu ngõ 148 Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Trần V N có hành vi tàng trữ trái phép 0,704 gam ma tuý loại MDMA và 0,896 gam ma tuý loại Ketamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác công an phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, bị bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Hành vi nêu trên của Trần V N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, được quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần V N là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án nghiêm trọng bởi lẽ hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý và gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương, do đó cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Trần V N, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên phạm tội, tịa cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần V N là đối tượng sử dụng ma túy. Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong của Công an phường Khương Mai, chữ ký của giám định viên Trần Huy Vũ, cán bộ Công an phường Trần Tuấn Hưng và đương sự Trần V N, bên trong có 02 viên nén màu hồng là MDMA có khối lượng 0,350 gam (thu giữ ban đầu 0,704 gam, đã trích mẫu giám định 0,354 gam) và 0,839 gam Ketamine (thu giữ ban đầu 0,896 gam, đã trích mẫu giám định 0,057 gam).
- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám đã qua sử dụng, mặt kính màn hình góc trên bị vỡ nứt, Số IMEI: 355687071276674 bên trong lắp sim số 0961762001, số seri sim: 8984 0480 0001 7220 748, đây là tài sản của N, N sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma tuý. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tịch thu chiếc điện thoại trên.
- Đối với số tiền 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng), Trần V N khai đã chuyển vào tài khoản Ngân hàng ACB 270**** mang tên Nguyễn T T để mua số ma tuý trên. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ cơ sở để chứng minh Nguyễn T T là người bán ma tuý cho N, T khai không biết ai chuyển và chuyển với mục đích gì. Do đó, cần truy thu số tiền: 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng) từ tài khoản Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), số tài khoản 270**** mang tên Nguyễn T T là số tiền sử dụng vào hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử quyết định truy thu số tiền trên.
Các vấn đề khác:
Đối với người bán ma tuý cho Trần V N, N khai không biết rõ nhân thân, lý lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Đối với người tên S cho Trần V N số điện thoại để liên lạc mua ma tuý, N không biết tên, tuổi, địa chỉ của S vì N chỉ quen S qua mạng xã hội Facebook. Sau khi liên lạc với S, N xoá hết nội dung cuộc nói chuyện và không còn lưu giữ thông tin gì với S. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch người này, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Đối với người sử dụng Zalo “Little Cactus” rủ N sử dụng ma tuý, N không biết tên thật, địa chỉ của người này. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân, lai lịch người này, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần V N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;
3. Xử phạt: Bị cáo Trần V N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Thời hạn tù tính từ ngày 16/3/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần V N.
4. Những vấn đề khác:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín, niêm phong của Công an phường Khương Mai, chữ ký của giám định viên Trần Huy Vũ, cán bộ Công an phường Trần Tuấn Hưng và đương sự Trần V N, bên trong có 02 viên nén màu hồng là MDMA có khối lượng 0,350 gam (thu giữ ban đầu 0,704 gam, đã trích mẫu giám định 0,354 gam) và 0,839 gam Ketamine (thu giữ ban đầu 0,896 gam, đã trích mẫu giám định 0,057 gam).
- Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám đã qua sử dụng, mặt kính màn hình góc trên bị vỡ nứt, Số IMEI: 355687071276674 bên trong lắp sim số 0961762001, số seri sim: 8984 0480 0001 7220 748.
- Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng), từ tài khoản số: 270**** tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), mang tên Nguyễn T T.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/6/2022).
5. Án phí và quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về án phí: Bị cáo Trần V N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. Hà Nội; - VKSND quận Thanh Xuân; - Công an quận Thanh Xuân; - Chi cục THADSQ.Thanh Xuân; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hường |