vanban.org

Bản án 107/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàngtrữ tráiphép chấtma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn C 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 23 tháng 6 năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàngtrữ tráiphép chấtma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƯƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2022/HS-ST
Ngày: 16/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư.

2. Bà Nguyễn Thị Chuyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 98/2022/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2022/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn C – Sinh năm 1982. Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Ch, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

Con ông: Lường Đình V – Đã chết và bà Lường Thị T – Sinh năm 1960

Gia đình bị cáo có 03 (ba) anh chị em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Hoàng Thị L 1984 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: 01

Tại Bản án số 02/2017/HSST ngày 14/11/2017, của TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Lường Văn C 06 năm tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 04/11/2021 trở về địa phương, đến nay chưa được xoá án tích. Lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”.

Bị cáo bị bắt từ ngày 23/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Lương.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người chứng kiến:

- Ông Trần Văn H, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm T, xã Y, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 23/06/2022, tổ công tác Công an xã Yên Lạc, huyện Phú Lương làm nhiệm vụ tại xóm Đẩu, xã Yên Lạc, phát hiện Lường Văn C, có biểu hiện nghi liên quan đến ma tuý nên yêu cầu kiểm tra. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải C đang mặc 01 gói chất bột màu trắng, nghi là ma tuý, (C khai là ma tuý, loại Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với C. Số chất bột màu trắng được thu giữ niêm phong theo quy định (ký hiệu A1)

Cùng ngày, khám xét khẩn cấp chỗ ở của C tại Thôn Đ, xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn không phát hiện thu giữ gì có liên quan.

Cân xác định khối lượng, trọng lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Thịnh được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, thấy có khối lượng là 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu) gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Kết luận giám định số 947/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận mẫu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng giám định 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu) gam.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận:

Do bản thân nghiện ma tuý, khoảng 9 giờ 30 phút ngày 23/6/2022, bị cáo đi xe ôm từ nhà ra khu vực xóm Đẩu, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, 01 gói ma tuý loại Heroine giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), bị cáo cất gói ma tuý vào túi quần đang mặc trên người, đang đi bộ thì bị Công an xã Yên Lạc phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy.

Bản cáo trạng số 101/CT-VKSPL ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lường Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn C khai nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy (Heroine) từ năm 2012. Ngày 23/6/2022 bị cáo đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện thu giữ.

Vị Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội “Tàngtrữtráiphép chấtmatúy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lường Văn C từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 23/6/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,216 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Tại phiên toà vắng mặt người chứng kiến, bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt người chứng kiến. Việc Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Về tội danh, điều luật truy tố: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Như vậy, cóđủcơsởđể khẳngđịnh:

Bản thân bị cáo nghiện ma tuý (Heroine) từ năm 2012. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 23/6/2022, bị cáo đi xe ôm từ nhà ra khu vực xóm Đẩu, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua của một người nam giới khoảng 30 tuổi, 01 gói ma tuý loại Heroine giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), bị cáo cất gói ma tuý vào túi quần đang mặc trên người, đang đi bộ thì bị Công an xã Yên Lạc phát hiện bắt quả tang, thu giữ ma túy.

Cân xác định khối lượng, trọng lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Thịnh được niêm phong trong phong bì ký hiệu T có khối lượng là 0,226 (Không phẩy hai hai sáu) gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Kết luận giám định số số 947/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận mẫu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng giám định 0,226 gam (Không phẩy hai hai sáu) gam. Hoàn lại đối tượng giám định theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định là 0,216 g (Không phẩy hai một sáu) gam và vỏ bao gói mẫu được niêm phong đúng quy định, ký hiệu A1.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện như lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

….

c) Heroine,… có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”

Bản cáo trạng số 101/CT-VKSPL ngày 04 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên để xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện, đi ngược lại công cuộc đấu tranh phòng chống ma túy của toàn xã hội, xâm phạm đến các điều cấm được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo có bố nhận được giấy khen kháng C nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51; Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”, được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ dài. Nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

Bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Nếu áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo sẽ không có tính khả thi. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,216 gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói. Không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai đã mua ma túy của một người nam giới, khoảng 30 tuổi là người bán ma tuý cho bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa. Về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt tù đối với bị cáo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo là phù hợp, đúng pháp luật và cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn C phạm tội: "Tàngtrữ tráiphép chấtma túy".

1.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử phạt bị cáo Lường Văn C 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 23 tháng 6 năm 2022).

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 11 năm 2022).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong có 0,216 (không phẩy hai một sáu) gam mẫu A1 và vỏ bao gói mẫu; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2, bên trong có vỏ bì niêm phong ký hiệu A1 và vỏ giấy gói.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương ngày 10 tháng 10 năm 2022).

3. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lường Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Bị cáo có tại phiên tòa. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ