- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hầu Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2022/HS-ST Ngày 21/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phan Tuấn
2. Bà: Đặng Thị Sinh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 102/2022/TLHS-ST ngày 06/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2022/QĐXXST-HS ngày 09/9/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hầu Văn T, Sinh ngày: 18/2/1979
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 4/12.
Bố: Hầu Văn P, sinh năm 1950; Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1957.
Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ: Bùi Thị L, sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Làm ruộng
Con: 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2005
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: 02
+ Tại bản án số 62/2006/HSST ngày 15/11/2006 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Hầu Văn T 13 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vật liệu nổ” (chấp hành xong ngày 16/8/2007). Bản án được xóa án tích.
+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 177/QĐ-XPVPHC ngày 02/8/2016 của Công an huyện Đại Từ xử phạt Hầu Văn T 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2022 đến ngày 14/6/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
*. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh: Trần Văn T, sinh năm: 1964 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
*. Người chứng kiến:
Anh: Bùi Văn Q, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 12, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau:
Hồi 18 giờ 20 phút ngày 02/6/2022, Công an xã T, huyện Đ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại khu vực đường tỉnh lộ 263C thuộc xóm 7, xã T có 01 đối tượng nam giới khoảng 40 tuổi mặc quần soóc màu đen, cởi trần, không đội mũ bảo hiểm đứng cạnh xe mô tô nhãn hiệu SYM màu nâu, BKS: 20B1- 79315 có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Khoảng 18 giờ 23 phút ngày 02/6/2022 tổ công tác Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến địa điểm trên để xác minh. Đến nơi, tổ công tác phát hiện 01 đối tượng nam giới (có đặc điểm nêu trên). Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính thì người nam giới khai họ tên là Hầu Văn T, T khai nhận bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma túy tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc có 03 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy loại Heroine của T mua về sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ vật chứng gồm: 03 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng (Niêm phong vào phong bì ký hiệu Q); 01 Điện thoại nhãn hiệu ACE màu đen, số thuê bao 0379.027 726 (Niêm phong vào phong bì T); 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, màu nâu, BKS: 20B1 - 79315. Xác định vụ việc có dấu hiệu của tội phạm, Công an xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng, đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ để giải quyết theo quy định.
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 03/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Hầu Văn T. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 03/6/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Hầu Văn T trong phong bì niêm phong ký hiệu Q có khối lượng: 0,223 gam, lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu Q1 gửi giám định; vỏ giấy gói và vỏ phong bì niêm phong vào phong bì ký hiệu Q2.
Tại kết luận giám định số 793/KL-KTHS ngày 11/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Q1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,223 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Hầu Văn T khai nhận như sau: Bản thân T là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 02/6/2022, T điều khiển xe mô tô gắn BKS: 20B1-79315 của T mua năm 2020 của một người đàn ông không quen biết không có đăng ký đi từ nhà đến khu vực cổng Trung tâm Methadol huyện Đại Từ với mục đích mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp và mua của 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi (T không quen biết) 03 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, T cất giấu Heroine vào túi quần bò phía trước bên trái T đang mặc điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến khu vực xóm 7, xã T, huyện Đ thì bị Tổ công tác Công an xã Tân Linh phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Lời khai nhận tội của Hầu Văn T như nêu trên phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ; kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án gồm:
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định).
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì Q).
+ 01 phong bì niêm phong ký hiệu T (bên trong là điện thoại di động ACE);
+ 01 xe mô tô gắn BKS: 20B1-79315.
Hiện nay được bảo quản tại kho vật chứng của chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý
Tại bản cáo trạng số 106/ CT-VKSĐT ngày 05/9/2022 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hầu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng, đại diện VKSND huyện Đại Từ giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hầu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hầu Văn T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì Q).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô gắn BKS: 20B1-79315.
- Tạm giữ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T (bên trong là điện thoại di động ACE) của bị cáo Hầu Văn T để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Buộc bị cáo Hầu Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an huyện Đại Từ, Điều tra viên; VKS nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
. Về căn cứ buộc tội:
Tại phiên tòa bị cáo T đã khai báo: Khoảng 18 giờ 23 phút ngày 02/6/2022 tại xóm 7, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hầu Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,223 gam (không phẩy hai hai ba gam) chất ma túy (loại Heroine), mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã T, huyện Đ phát hiện, bắt người quả tang, thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận của Hầu Văn T phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người chứng kiến; vật chứng thu giữ, kết luận giám định....
Như vậy hành vi tàng trữ 0,223 gam Heroine của Hầu Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.
Nội dung điều luật như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm vào mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…..
c) Heroine….. có khối lượng từ 0,1 gam đến 05 gam.
. Xét tính chất hành vi:
Xét về tính chất hành vi của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người mà còn ảnh hưởng và suy hao kinh tế là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Ngoài ra bố đẻ bị cáo T là ông Hầu Văn P được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương khánh chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo là nghiện ma tuý có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Hầu Văn T 13 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vật liệu nổ” và bị Công an huyện Đại Từ xử phạt Hầu Văn T 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội mà vẫn lao vào con đường phạm tội trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội nên cần xử lý nghiêm.
. Về hình phạt:
Căn cứ vào tình chất hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo T mức án từ 24 đến 30 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện, không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định nên miễm phạt bổ sung cho bị cáo
. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì Q).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô gắn BKS: 20B1-79315.
- Tạm giữ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T (bên trong là điện thoại di động ACE) của bị cáo Hầu Văn T để đảm bảo thi hành án.
. Về nguồn gốc số Heroine, T khai mua của 01 người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng trung tâm Methadol, huyện Đại Từ. Do không xác định được lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đại Từ không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với chiếc BKS: 20B1-793.15, kết quả xác minh là BKS của chiếc xe Honda Wave của ông Trần Văn T1, sinh năm 1964, trú quán: xóm C, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Ông T1 xác định đánh rơi BKS này và đã làm lại BKS mới, không có đề nghị gì đối với chiếc BKS trên. Chiếc xe mô tô của T không phải là vật chứng của vụ án khác nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
. Về án phí: Buộc bị cáo Hầu Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định sung công quỹ nhà nước.
Vì các lẽ nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Điều 38 Điều 47 của BLHS năm 2015; Điều 106 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Hầu Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hầu Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ đi thời hạn bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2022 đến ngày 14/6/2022.
2. Về phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1 (bên trong là Heroine còn lại sau giám định); 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q2 (bên trong là vỏ giấy gói và vỏ phong bì Q).
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô gắn BKS: 20B1-79315.
- Tạm giữ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T (bên trong là điện thoại di động ACE) của bị cáo Hầu Văn T để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 91/QĐ-VKSĐT ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Hầu Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên (1b); - Công an huyện Đại Từ (3b); - VKSND huyện Đại Từ (1b); - VKSND tỉnh Thái Nguyên (1b); - Chi cục THADS huyện Đại Từ (1b); - THAHS (2b); - Bị cáo; Người có QLNVLQ; - Thông báo cho UBND xã P; - Lưu hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Kao Hoàng |