vanban.org

Bản án 107/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng V được ly hôn ông Phạm Thanh D. Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, giao hai người con chung tên là Phạm Thị Gia H – sinh ngày 12/6/2018 và Phạm Mai L – sinh ngày 15/11/2014 cho bà Lê Thị Hồng V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Phạm Thanh D có nghĩa vụ cấp dưỡng ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Tấn Nghị.

Ông Lê Văn Tuyển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Trường – Thư ký Tòa án.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng V, sinh năm 1995. Có mặt

Nơi cư trú: Thôn N, xã H1, huyện T, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: Ông Phạm Thanh D, sinh năm 1995. Vắng mặt không có lý do.

Nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Lê Thị Hồng V và ông Phạm Thanh D tìm hiểu và tự nguyện kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2015 tại UBND xã H. Theo bà V trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Nguyên nhân vì không phù hợp suy nghĩ và lối sống, ông D thiếu trách nhiệm, không chịu làm ăn lo kinh tế gia đình. Bà V đã cắt đứt quan hệ vợ chồng, không còn chung sống với ông D từ tháng 7/2020 đến nay, hiện bà V không còn tình cảm, không thể chung sống có hạnh phúc được nữa nên yêu cầu giải quyết ly hôn ông D. Về con chung: Vợ chồng có hai người con chung tên là Phạm Thị Gia H – sinh ngày 12/6/2018 và Phạm Mai L – sinh ngày 15/11/2014 hiện đang sống cùng bà V. Sau khi ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi con, yêu cầu ông D cấp dưỡng cho con mỗi cháu 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ông Phạm Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị Hồng V nộp đơn khởi kiện ngày 23/9/2022, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn ông Phạm Thanh D có nơi cư trú tại xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với vụ án. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà Lê Thị Hồng V và ông Phạm Thanh D có đầy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của bà V: Bà V trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do không phù hợp suy nghĩ và lối sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau; ngoài ra bà V còn cung cấp giấy xác nhận tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng, hiện tại không còn chung sống với nhau, bà V đã chuyển về ở nhà mẹ ruột tại xã H1. Từ những căn cứ trên cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà V và ông D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà V là có cơ sở, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện, bà Lê Thị Hồng V được ly hôn ông Phạm Thanh D.

Về nuôi con chung: Bà V và ông D có hai người con chung tên là Phạm Thị Gia H – sinh ngày 12/6/2018 và Phạm Mai L – sinh ngày 15/11/2014 hiện đang do bà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Để đảm bảo sự phát triển tốt nhất về mọi mặt cho các con, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà V, giao con chung cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng: Ông D không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi người con 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2022 cho đến khi thuộc một trong các trường hợp làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐST theo quy định pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng V được ly hôn ông Phạm Thanh D.

Về nuôi con chung: Sau khi ly hôn, giao hai người con chung tên là Phạm Thị Gia H – sinh ngày 12/6/2018 và Phạm Mai L – sinh ngày 15/11/2014 cho bà Lê Thị Hồng V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Phạm Thanh D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi người con 1.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12/2022 cho đến khi thuộc một trong các trường hợp làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

Ông Phạm Thanh D được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp có đơn yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Quốc Hội. Bà Lê Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0005848 ngày 05/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Ông Phạm Thanh D phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

Nguyên đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ