vanban.org

Bản án 107/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị Kim L vớianh Nguyễn Văn T.

Chị Quách Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chị Quách Thị Kim L và anh Nguyễn Văn T không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa Quách Thị Kim L - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị Kim L vớianh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:107/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22-9-2022.
V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Huy Cường;

2. Bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp ly hôntheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quách Thị Kim L, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16tháng 02năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị Kim L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T chung sống với nhau vào năm 2010, nhưng không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 13/8/2010. Sau khi cưới, hai anh chị sống chung bên nhà anh T tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Quách Hải Y, sinh ngày 04/7/2011. Đến năm 2019 cháu Y chết ( bị té suối ). Từ thời gian đó, anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ nhau, nguyên nhân là do bất đồng về kinh tế gia đình, anh T thường xuyên uống rượu, không chăm lo cho gia đình. Đến khoảng tháng 10/2019 chị bỏ về nhà mẹ ruột chị ở ấp G, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương sống và ly thân với anh T từ đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân hai anh chị vẫn không hòa giải hàn gắn gia đình được. Nên nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị và anh T không có con chung.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợchung: Chị trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đối với bị đơn –anh Nguyễn Văn T trình bày (Tại biên bản lấy lời khai ngày 11-7-2022):

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L chung sống với nhau vào năm 2010, nhưng không có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 13/8/2010. Sau khi cưới, hai anh chị sống chung bên nhà anh tại ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng tháng 10/2019 chị L bỏ nhà về sống với mẹ ruột tại ấp G, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương và ly thân với anh từ đó cho đến nay. Trong thời gian đó anh có khuyên can và năn nỉ chị L về chung sống lại nhưng chị L không đồng ý. Hiện tại anh vẫn còn thương vợ anh nên anh không đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh và chị L không có con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên Tòa trình bày:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử: Thẩm phán, thư ký thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:Nguyên đơn chị Quách Thị Kim L và bị đơn anh Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T là đúng theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án:Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị Kim L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chị L, anh T không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 chị Quách Thị Kim L phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Quách Thị Kim L và anh Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T theo quy định tại Khoản 1 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân:Chị L, anh T trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh ngày 13/8/2010nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Theo chị L trình bày mâu thuẫn phát sinh là do vợ chồng chung sống không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, anh T thường xuyên uống rượu, không lo lắng gì cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau, hiện tại cuộc sống gia đình chịkhông còn hạnh phúc. Tại biên bản lấy lời khai ngày 11-7-2022, anh T trình bày vợ chồng anh đã ly thân từ khoảng tháng 10/2019 đến nay nhưng không có biện pháp khắc phục, hàn gắn gia đình. Mặt khác, qua xác minh tại địa phương, chính quyền địa phương cung cấp anh T không có việc làm ổn định, thường xuyên uống rượu làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng vợ chồng giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn với anh T là phù hợp.

Về con chung: Chị L, anh T không có con chung.

Về tài sản chung: Chị L, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị L, anh T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí:Chị Quách Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị Kim L vớianh Nguyễn Văn T.

Chị Quách Thị Kim L được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Chị Quách Thị Kim L và anh Nguyễn Văn T không có con chung.

3. Về tài sản chung: Chị Quách Thị Kim L và anh Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Quách Thị Kim L và anh Nguyễn Văn T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

5. Về án phí: Chị Quách Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0024374 ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Chị L đã nộp xong tiền án phí hôn nhân sơ thẩm

Anh Nguyễn Văn Tkhông phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Chị L, anh Tcó quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ