- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Trương Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2021/HS - ST Ngày: 03-11-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Thạch Thị Lan Nhung
+ Ông Hà Thanh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khắc Duy - Là thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 111/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Trƣơng Văn N; sinh năm 1987; tại Gia Lai; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 7, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trương Thị H; Vợ: Phạm Thị Thúy Tr, sinh năm 1990. Bị cáo có 04 người con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2021, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Trương Thị B sinh năm: 1984
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, Lâm Đồng. Có mặt.
Người làm chứng:
Anh Phạm Linh T sinh năm: 1993. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 24/6/2021, Trương Văn N có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã một mình đón xe taxi (N không nhớ biển số và hãng xe) từ nơi ở tại nhà nghỉ trọ H thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đến đoạn đường gần ngã ba xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để mua ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) có tên thường gọi là “H”. N biết H thông qua một số bạn nghiện giới thiệu. Khi đến nơi N đưa cho H số tiền 600.000đồng để mua ma túy thì H chỉ xuống gói thuốc lá ở ven đường và nói ma túy để bên trong, N cầm gói thuốc lá bên trong có chứa ma túy lên tay rồi đi xe taxi về lại phòng trọ số 5 nhà nghỉ H. Khi về đến phòng thì N lấy một ít ra sử dụng, phần ma túy còn lại N để vào gói nilon rồi nhét vào trong một ống kẹo bằng nhựa cất giấu trong phòng vệ sinh. Vào chiều ngày 25/6/2021, N tiếp tục bắt taxi đi đến đoạn đường gần ngã ba Nam Hà để mua ma túy của H. Khi đến nơi N đưa cho H số tiền 1.000.000đồng, H nhận tiền rồi chỉ vào một gói thuốc lá để ở ven đường. N đi đến cầm gói thuốc lá mở ra xem thì thấy bên trong có một gói nilon chứa chất ma túy. N cầm gói ma túy trong tay rồi lên xe taxi đi về nhà nghỉ H, khi đến phòng N cất gói ma túy vào trong túi áo khoác treo trong nhà vệ sinh rồi đi tắm, thay quần áo. Sau đó Phạm Linh T là bạn của N đến chơi. Lúc này N lấy ma túy mua được vào ngày 24/6/2021 và ngày 25/6/2021 ra để sử dụng, khi chuẩn bị sử dụng ma túy thì lực lượng Công an vào kiểm tra, do sợ nên N đã vứt gói ma túy và ống kẹo có chứa ma túy vào trong nhà vệ sinh. Sau đó Công an tiến hành niêm phong tạm giữ tang vật và mời Trương Văn N và Phạm Linh T về trụ sở để làm việc. Tại cơ quan Công an Trương Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon chứa chất tinh thể màu trắng, có kích thước 2cmx3cm nghi là ma túy, 01 điện thoại di động Cool Pad F 110, 01 lọ thủy tinh bên trên được quấn băng keo màu đen và được gắn một ống nhựa màu vàng, 01 ống thủy tinh màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 653/GĐ-PC09 ngày 02/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong 02 gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,8038gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ.
Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 06/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Trương Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Văn N từ 03 đến 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2021. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Lâm Đồng, 01 lọ thủy tinh; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Cool Pad F110 đã qua sử dụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/6/2021 khi Trương Văn N đang chuẩn bị sử dụng ma túy tại phòng số 5, nhà nghỉ H tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì bị Công an bắt quả tang. Do hoảng sợ nên bị cáo đã ném gói ma túy vào trong phòng vệ sinh, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 gói nilon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Theo kết luận giám định ngày 02/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lâm Đồng thì mẫu mẫu tinh thể đựng trong túi nilon được niêm phong thu của bị cáo là ma túy, có tổng khối lượng 3,8038gam, loại Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bản thân là người nghiện ma túy nên chiều ngày 24/6/2021 và sáng ngày 25/6/2021 bị cáo đã đi đến ngã ba xã Nam Hà mua ma túy với tổng số tiền cho cả 02 lần là 1.600.0000đồng để nhằm mục đích sử dụng dần. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, Kết luận giám định và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Ma túy là loại độc dược, có nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Đồng thời, cũng là nguyên nhân nảy sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Lẽ ra bị cáo phải ý thức được tác hại nặng nề của ma túy đối với xã hội nhưng ngược lại vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã nhiều lần mua ma túy với số lượng 3,8038gam loại Methamphetamine về để sử dụng, chứng tỏ bị cáo rất liều lĩnh và coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi đã thực hiện là hoàn toàn phù hợp.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Theo lời khai của bị cáo Trương Văn N, số ma túy cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang là do bị cáo mua của một người đàn ông tên H. Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng trên nên tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ để xử lý sau.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tang vật của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án là: 02 phong bì niêm phong đựng ma túy nhà nước cấm lưu hành tuyên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động hiệu Cool Pad F110 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo N khi bắt quả tang, chiếc điện thoại trên là tài sản của bị cáo đã sử dụng liên lạc để mua ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 lọ thủy tinh không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/6/2021.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuyên:
+ Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh Lâm Đồng ; 01 lọ thủy tinh;
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Cool Pad F110 đã qua sử dụng;
(Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/11/2021) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu HS - BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhƣ Quỳnh |