vanban.org

Bản án 107/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý,…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị G được ly hôn anh Hoàng Văn C. Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Hoàng Lê Diễm M, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2015 cho anh Hoàng Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị G. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý,…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƢƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 107 /2021/HNGĐ-ST
Ngày 21 tháng 7 năm 2021
V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH NA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang

Các Hội thẩm nhân dân

Ông Hoàng Văn Bình

Ông Phạm Viết Tùng

- Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Xuân Tráng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương xét xử công khai vụ án thụ lý số 76/ 2021/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị G, sinh năm 1994; Nơi ĐKNKTT: Xóm 4, Ngọc Mỹ, xã Giang Sơn Tây, huyện ĐL, tỉnh NA. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1989; Nơi ĐKNKTT: xóm Phú Nhuận, xã Thanh Ngọc, huyện TC, tỉnh NA.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và trong đơn xin xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị G trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Ngọc, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 25 tháng 01 năm 2014. Sau khi kết hôn xong vợ, chồng về làm ăn sinh sống hạnh phúc cho đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị là do tính tình vợ chồng sống không hợp nhau. Nay chị xét thấy tình cảm không còn nữa nên nguyện vọng của chị là muốn được ly hôn với anh Hoàng Văn C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 1 con chung là Hoàng Lê Diễm M, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2015. Hiện nay cháu đang sống cùng với anh Hoàng Văn C Nay ly hôn nguyện vọng của chị là muốn để cho anh Hoàng Văn C được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Lê Diễm M và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị.

Về phân chia tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ: Hiện nay vợ chồng không nợ gì ai và cũng không ai nợ gì vợ chồng.

Đối với bị đơn anh Hoàng Văn C. Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh đều vắng mặt. Nên không tiến hành lấy lời khai hay ý kiến của anh về việc chị Lê Thị G xin ly hôn anh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý giải quyết cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án hoàn toàn tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình, xử:

- Về tình cảm: Chị Lê Thị G được ly hôn với anh Hoàng Văn C

Về con chung: Giao cháu Hoàng Lê Diễm M, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2015 cho anh Hoàng Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị G.

Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Tranh chấp Hôn nhân gia đình được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Cho nên việc thụ lý, giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh NA.

Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù bị đơn anh Hoàng Văn C đã nhận được các văn bản tố tụng, nhưng anh đều cố tình vắng mặt. Nên đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Hoàng Văn C vắng mặt. Nhưng đây là phiên tòa được mở lần thứ 2, anh Chuyên vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng. Cho nên xét thấy việc xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn C là hoàn toàn phù hợp với pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lê Thị G vắng mặt. Nhung đã có đơn xin xử vắng mặt. Xét thấy việc xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lê Thị G là phù hợp với Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị G và anh Hoàng Văn C là hôn nhân hợp pháp. Hai bên kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có được tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Ngọc, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 25 tháng 01 năm 2014 theo quy định. Sau khi kết hôn xong cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau. Nay chị Lê Thị G xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nguyện vọng ly hôn với anh Hoàng Văn C.

Bị đơn anh Hoàng Văn C mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh đều vắng mặt. Điều đó thể hiện anh không xem trọng vấn đề hôn nhân của vợ chồng.

Xét thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, nếu kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Cho nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị G được ly hôn với anh Hoàng Văn C là phù hợp với pháp luật.

Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng có 1 con chung là cháu Hoàng Lê Diễm M. Hiện đang sống cùng với anh Hoàng Văn C và bà nội. Xét thấy cháu Hoàng Lê Diễm M đã sống cùng với anh Hoàng Văn C đã lâu. Nay vợ chồng ly hôn nhau chị Lê Thị G có nguyện vọng để cháu tiếp tục sống cùng với anh Hoàng Văn C và xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị là hoàn toàn phù hợp.

Về phân chia tài sản chung: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Về ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh NA tại phiên tòa. Xét thấy việc tuân theo quy định pháp luật và các nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ án là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị G được ly hôn anh Hoàng Văn C.

Về trách nhiệm nuôi con: Giao cháu Hoàng Lê Diễm M, sinh ngày 06 tháng 9 năm 2015 cho anh Hoàng Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị G.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghÜa vô thăm nom con mà không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về chia tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét

Về án phí: Buộc Chị Lê Thị G phải chịu 300.000 đồng ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004659 ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh NA. Chị Lê Thị G đã nộp đủ án phí ly hon sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ