vanban.org

Bản án 107/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.

2/. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C với tiền 11.890.000 đồng, trong đó: tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 1.890.000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng C - Nguyễn Văn H"
  • Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2021/DS-ST
Ngày: 12/7/2021
“V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Viết Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/. Bà Lê Thị Diễm Huyền.

2/. Bà Nguyễn Thị Tú Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Quách Văn Diển, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Xuân Mai, Kiểm sát viên.

Trong ngày 12/7/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 124/2021/TLST-DS ngày 8/4/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2021/QĐXXST-DS ngày 02/6/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 150/2021/QĐST-DS ngày 21/6/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C.

Địa chỉ trụ sở: Số Z, Phố L, phường H, quận M, TP. Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện tham gia tố tụng của ngân hàng: Ông Nguyễn Chí B, chức vụ P. Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C. Địa chỉ: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (theo Giấy ủy quyền số 39/NHCS-UQ, ngày 15/5/2021 của Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C. Ông B có mặt).

- Bị đơn: Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị A, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp C, thị trấn AT, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 29/03/2021 và các tài liệu có trong hồ sơ, đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Chí B trình bày: Vào ngày 12/12/2017 Ngân hàng C phê duyệt cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A, vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 0,75%/tháng, thời hạn cho vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, hạn trả cuối cùng là ngày 12/12/2022, vay theo chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, mục đích sử dụng cải tạo vườn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, tính đến nay hộ ông H còn nợ là 11.588.080 đồng, trong đó: vốn gốc là 10.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 22/03/2021 là 1.588.080 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã phối hợp với chính quyền địa phương, đoàn thể vận động gia đình ông H thực hiện nghĩa vụ trả nợ để ngân hàng thu hồi nợ về cho Nhà nước nhưng không có kết quả.

Nay Ngân hàng C yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng ông H có trách nhiệm hoàn trả số tiền trên cho ngân hàng và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong khoản nợ theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông, bà không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện.

Ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 12/12/2017 Ngân hàng C phê duyệt cho vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A vay 10.000.000 đồng, 0,75%/tháng, thời hạn cho vay 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, vay theo chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, mục đích sử dụng cải tạo vườn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng hộ ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, tính đến nay hộ ông H chỉ trả lãi được 1.336.301 đồng, còn nợ ngân hàng vốn lãi là 11.890.000 đồng.

Khi tham gia giao dịch các bên đều có năng lực hành vi, tự nguyện giao kết, thỏa thuận với nhau, giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bên ông H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, không trả tiền vốn và tiền lãi đúng thời hạn đã thỏa thuận khi vay vốn, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tiền. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H có trách nhiệm trả tiền gốc và tiền lãi trả nợ cuối cùng trong hợp đồng vay vốn đã xác lập là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 463, 466, 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C, buộc vợ chồng ông H có trách nhiệm thanh toán vốn lãi cho ngân hàng 11.890.000 đồng đồng, trong đó: tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 1.890.000 đồng.

Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện K về việc chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, theo như nhận định nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn không cung cấp được các giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên bị đơn phải chịu án phí 594.500 theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1/. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C.

2/. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C với tiền 11.890.000 đồng, trong đó: tiền gốc 10.000.000 đồng, tiền lãi 1.890.000 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

3/. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Văn H, bà Huỳnh Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 594.500 đồng.

Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4/. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thì hành bản án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ