- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Ngô Thị Thu H khởi kiện yêu cầu các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Thu H về việc tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật với các bị đơn ông Phạm Văn Nh, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn Th, ông Trịnh Minh T, ông Đặng Đôn T, ông Lê Ngọc C, ông Thái Doãn B, ông Lƣu Xuân H, b…
- Căn cứ chính? Luật Đất đai; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B DƢƠNG ——————— Bản án số: 107/2020/DS-ST Ngày 15-12-2020 V/v tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TH PHỐ DĨ AN, TỈNH B DƯƠNG
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Th phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2020/TLST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 132/2020/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 127/2020/QĐST-DS ngày 26/11/2020, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thu H, sinh năm 1963; địa chỉ: Số A H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1973; địa chỉ: Số B Lê Thị Trung, Tổ C, Khu 2, phƣ ng P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, là ngƣ i đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Phạm Văn Nh, sinh năm 1968; địa chỉ: Số A h m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A, đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
3. Ông Đặng Đôn T, sinh năm 1975; địa chỉ: A đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng
4. Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
5. Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
6. Ông Đào Hữu M, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của các bị đơn ông Phạm Văn Nh, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn T, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn V, ông Đào Hữu M: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A chung cƣ Th, Đông Hƣng Thuận, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số chứng thực 842, quyển số 02TP/CC-TP/CC-SCT/CK,ĐC ngày 25/11/2020).
7. Ông Đặng Đôn Th, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
8. Ông Trịnh Minh T, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A, đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
9. Ông Lê Ngọc C, sinh năm 1983; địa chỉ: Số A, đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
10. Ông Thái Doãn B, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A, H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
11. Ông Lƣu Xuân H, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
12. Bà Chung Thị H; địa chỉ: Số A, H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt
13. Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1977; địa chỉ: Số A, đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
14. Ông V Văn H, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A, tổ 12 H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
15. Ông Nguyễn Trọng Nh, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
16. Ông Đào Văn Th, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A, H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
17. Ông Trần Minh C; địa chỉ: H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Châu Kim H, sinh năm 1958 và ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1955; địa chỉ: Số B, tổ 12, khu phố T, phƣ ng T, Th phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Vắng mặt.
2. Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số C, Phƣ ng A, Quận 3, Th phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Hùng Ph, sinh năm 1964; địa chỉ: H m 44, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
4. Bà Lê Thị Th, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A, khu phố T, phƣ ng T, Th phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Vắng mặt.
5. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1986; địa chỉ: A đƣ ng A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 27/4/2020, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị Thu H và người đại diện hợp pháp của bà H trình bày:
Bà H là chủ sử dụng diện tích 586,1m2 thuộc thửa đất số 1960, t bản đồ số 60 (E3.6), theo giấy chứng nhận số vào sổ CS14724 do Sở tài nguyên môi trƣ ng cấp ngày 11 tháng 02 năm 2019 cho bà H, đất tọa lạc khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân B, Th phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Đất của bà H có một cạnh giáp với đất của bà Châu Kim H. Bà H đã thƣơng lƣợng với bà Châu Kim H và ông Nguyễn Hữu L, cho bà H sử dụng chung con đƣ ng bà H, ông L đã mở cho tất cả các hộ của h m 44 cùng đi chung (chiều dài khoảng 70 mét, rông khoảng 3,3 mét), bà H và ông L đồng ý. Trƣớc đây, để các hộ dân không vứt rác qua phần đất của bà H và để con nít không chạy qua đó chơi ông Phạm Đức A có xin bà H xây một bức tƣ ng rào ngăn cách giữa đất của bà H với con đƣ ng, giữa ông Phạm Đức A và bà Châu Kim H có cam kết khi nào bà H yêu cầu mở đƣ ng thì sẽ đập bỏ bức tƣ ng. Năm 2019, bà H đập bỏ bức tƣ ng ông Đức A xây trƣớc đó, khi đập xong bức tƣ ng thì các hộ dân tại h m 44 xây một bức tƣ ng khác để ngăn cản không cho bà H sử dụng lối đi này. Bà H và bà H đã yêu cầu các hộ dân đập bỏ bức tƣ ng nhƣng các hộ dân này không đồng ý. Bà H làm đơn khiếu nại gửi lên Ủy ban nhân dân phƣ ng Tân B để yêu cầu giải quyết chấm dứt hành vi cản trở lối đi nhƣng hòa giải không Th. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật để bà H đƣợc sử dụng con đƣ ng đi chung có chiều dài khoảng 70m, chiều rộng 3,3m (ký hiệu B, C trên mảnh trích lục). Lý do bà H yêu cầu đƣợc đi chung trên con đƣ ng đi này là do trƣớc đây khi bà H mở đƣ ng cho mấy hộ dân mua phần đất do bà Trần Thị Kim H đứng tên (giáp đất của bà H) có đƣ ng đi ra đƣ ng công cộng thì bà H có góp 20.000.000 đồng để bà H mua lại phần đất trƣớc đó bà H đã bán cho ông C nên bà H cũng có quyền đƣợc sử dụng con đƣ ng này.
Tại phiên tòa, ngƣ i đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện hỗ trợ chi phí các bị đơn bỏ ra đổ khối bê tông (vị trí A trên mảnh trích lục) ngăn cách giữa đất của bà H với đất do bà H đứng tên theo giá do Hội đồng định giá xác định tại Biên bản định giá tài sản ngày 24/9/2020 và đóng góp chi phí làm đƣ ng với số tiền 20.000.000 đồng.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020,quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Đặng Đôn T và người đại diện hợp pháp của ông Đặng Đôn T trình bày:
Năm 2005, ông có mua một lô đất của ông Đặng Đôn Th, diện tích đất 60m2 (ngang 5 mét, dài 12 mét). Đất có đƣ ng đi 3 mét, ông và các hộ dân chung tiền làm đƣ ng đổ bê tông, trồng cột điện. Việc bà H khởi kiện ông và các hộ dân cản trở trái phép đƣ ng đi là không đúng. Vì lô đất của bà H có lối đi là mặt tiền đƣ ng An Nhơn, tiếp giáp bên cạnh lô đất của bà H là lô đất của bà Trần Thị Kim H. Bà H đã có đƣ ng đi là đƣ ng An Nhơn nhƣng bà H đòi thông sang đƣ ng này là vô lý và gây ra nhiều vấn đề phức tạp khác về an ninh trật tự. Vậy bà H không có lý do để nói các bị đơn cản trở lối đi của bà H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, bị đơn ông Thái Doãn B trình bày:
Vào năm 2005, ông mua lô đất có diện tích 90 m2 (4,5 mét x 20 mét) của bà Châu Kim H, trên mảnh đất có trồng cây lâu năm, đƣ ng đi nội bộ 3 mét là đƣ ng đất thông ra đƣ ng đất đỏ của xóm. Mảnh đất của ông giáp ranh với đất của ông D, trƣớc mặt là con đƣ ng, điểm cuối đƣ ng giáp với mảnh đất của bà H, là điểm bà H muốn mở đƣ ng để đi vào đƣ ng của xóm. Lô đất này ông mua giấy chung sổ đỏ cùng các hộ dân khác của bà Trần Thị Kim H. Từ năm 2005 đến nay chƣa tách sổ, chỉ đóng thuế nông nghiệp. Vào năm 2006, ông xây nhà ở đến nay, đã đóng góp 3 lần cùng các hộ dân khác để làm đƣ ng đi chung. Lô đất của bà H tiếp giáp lô đất của bà H, đất bà H có mặt tiền hƣớng ra đƣ ng An Nhơn, trên mảnh đất đã có nhà và có trồng cây lâu năm. Sát nhà ông có đƣ ng 3 mét hƣớng ra đƣ ng An Nhơn. Việc bà H đƣa bà H 20.000.000 đồng để đóng góp làm đƣ ng ông không biết. Ông và các hộ dân trong xóm làm đƣ ng 4 lần nhƣng không thấy bà H và bà H đóng góp.
- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/7/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn V, người đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Văn V là ông H trình bày:
Vào năm 2005, ông V có mua lô đất 80m2 (dài 8 mét, rộng 10 mét) của ông Nguyễn Hữu L. Năm 2006, thì xây nhà, khi đó đƣ ng đi là đƣ ng đá cấp phối, ông V và các hộ dân trong xóm 4 lần bỏ công sức, chung tiền của để làm con đƣ ng bê tông nhƣ hiện nay. Phần đất làm đƣ ng đi trong con h m 44 có nguồn gốc là của ông Nguyễn Hữu L và vợ là bà Châu Kim H. Sau đó bà H tách một phần để bán cho bà Trần Thị Kim H, bà H đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó bà H tách ra bốn lô để chuyển nhƣợng cho ông Th, ông Thái Doãn B, ông Phạm Đức A và một ngƣ i khác không r , nhƣng hiện nay ông Đào Văn Th đang quản lý sử dụng phần đất đó. Bà H có chừa ra khoảng 30m2 để làm đƣ ng đi cho các hộ mua đất của bà H. Ông Th sau đó chuyển nhƣợng lại cho ông V, việc chuyển nhƣợng chỉ đƣợc hai bên lập giấy t tay chƣa làm thủ tục công chứng chứng thực. Khi chuyển nhƣợng ông V có nghe ông Th nói đất này của bà Trần Thị Kim H, lối đi là đƣ ng đi chung mà các hộ dân đang sử dụng và phải đóng góp chi phí làm đƣ ng đi chung. Mảnh đất ông V đang sử dụng vẫn chƣa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chƣa tìm đƣợc bà Trần Thị Kim H. Năm 2018, ông V có mua thêm mảnh đất có diện tích 42,5m2 (dài 10 mét, rộng 4,5 mét) của ông Th, hiện nay đã xây nhà nối liền vào nhà ở hiện tại. Lô đất ông V mua của ông Th thuộc một phần lô đất có tổng diện tích 297m2 của bà Trần Thị Kim H. Lô đất của bà H tiếp giáp với đất của bà H. Đất của bà H rất lớn, đã có mặt tiền đƣ ng An Nhơn nhƣng bà H yêu cầu mở đƣ ng đi tắt qua đất của các hộ dân là vô lý. Bà H mua đƣ ng của bà H 20.000.000 đồng để đi qua đất của các hộ dân là không có căn cứ. Ông V không đồng ý với việc khởi kiện của bà Ngô Thị Thu H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, bị đơn ông Lưu Xuân H trình bày:
Vào năm 2001, ông H có mua một lô đất của ông Nguyễn Hữu L diện tích 135m2 (rộng 5 mét, dài 27 mét), hiện đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đƣ ng đi chung có chiều rộng 3m do ông và các hộ dân tự mở, tự làm đƣ ng, trồng cột điện. Về việc bà H khởi kiện là không đúng vì bà H đã có lối đi là mặt tiền đƣ ng An Nhơn, giáp ranh với lô đất của bà H là đất của bà Trần Thị Kim H nên không có căn cứ để nói ông H và các hộ dân cản trở. Bà H muốn thông đƣ ng sang để đi chung với các hộ dân là vô lý, chƣa kể sẽ gây ra nhiều vấn đề phức tạp khác về an ninh trật tự nên ông H không đồng ý.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Đào Hữu M và người đại diện hợp pháp của ông Đào Hữu M là ông H trình bày:
Năm 2011, ông có nhận chuyển nhƣợng từ bà Phạm Thị Nh thửa đất số 1886 thuộc t bản đồ E3.6 với diện tích 72m2 với hiện trạng không có tài sản gắn liền với đất. Đến năm 2014, ông xây dựng nhà cấp 4 và về đây sinh sống. Khi ông về đã có đƣ ng bê tông do các hộ ở trƣớc đóng góp tiền làm đƣ ng và trồng cột điện. Sau này ông M và các hộ đã nhiều lần đóng góp để tu sửa mới có con đƣ ng chắc chắn nhƣ hiện nay. Việc bà H khởi kiện là vô lý, vì phần đất giáp ranh đất của bà H là đất của bà Trần Thị Kim H. Hơn nữa phần đƣ ng kế tiếp là đƣ ng tự mở trên đất của bà H là đất thuộc quyền sở hữu của ông T, ông T đã có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân phƣ ng Tân B. Vì vậy, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H vì sẽ gây bất ổn về an ninh trật tự của h m 44.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn S và người đại diện hợp pháp của ông S là ông H trình bày:
Vào năm 2001, ông S có nhận sang nhƣợng từ ông Nguyễn Hữu L một thửa đất trồng cây lâu năm có diện tích 135m2 (rộng 5 mét, dài 27 mét), đến năm 2003 mới đƣợc tách sổ. Lúc nhận sang nhƣợng có một con đƣ ng rộng 3 mét dài 70 mét, bây gi là h m 44. Vào th i đểm năm 2001, ông S và các hộ dân đóng góp tiền để tự làm đƣ ng cấp phối, kéo dây trồng cột điện và sau nhiều lần nâng cấp đã Th đƣ ng bê tông chắc chắc nhƣ hiện nay. Đến năm 2018, mảnh đất của ông S đƣợc chuyển đổi Th đất ở đô thị, số thửa 1626, t bản đồ số 60, diện tích 134,5m2, trong đó 120m2 là đất ở lâu dài. Việc bà H khởi kiện là vô lý và không đúng sự thật, vì lối đi chính của bà H là đƣ ng An Nhơn, không liên quan đến h m của các hộ dân, đất của bà H giáp ranh đất của bà Trần Thị Kim H, việc cho bà H đi hay không là do bà H quyết định. Bà H mua đƣ ng của bà Châu Kim H với số tiền 20.000.000 đồng là H toàn vô lý vì đó không phải là đất của bà H, hơn nữa, phần đƣ ng tiếp giáp phần đƣ ng đi trên đất bà H là đất của ông T đã có giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân phƣ ng Tân B. Vì vậy, ông S không đồng ý cho bà H thông qua đƣ ng, sẽ gây phiền toái và mất an ninh trật tự với h m 44.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, bị đơn ông Nguyễn Trọng Nh trình bày:
Ông có nhận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất của bà D với diện tích 90,6m2 (rộng 5 mét, dài 18,17 mét) vào năm 2014. Khi nhận chuyển nhƣợng có đƣ ng đi do các anh chị trong xóm làm và ông có đóng góp trong lần làm đƣ ng gần nhất. Việc bà H khởi kiện là không đúng vì bà H đã có đƣ ng đi là đƣ ng An Nhơn, còn phía tiếp giáp phần đất bà H muốn thông ra h m là đất của bà H, vậy không có lý do gì mà bà H khởi kiện ông và các hộ dân. Việc mở đƣ ng thông ra lối đi chung của xóm sẽ gây ra mất an ninh trật tự trong xóm, tr con không có không gian an toàn để vui chơi nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020 và biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2020 bị đơn ông Đào Văn Th trình bày:
Tháng 9 năm 2018, ông có mua lô đất diện tích 84m2 (rộng 4,2 mét, dài 20 mét) của bà Đỗ Thị D là đất trồng cây với giá 990.000.000 đồng, hiện nay ông đã xây nhà cấp 4 gác lửng, mái tôn. Lô đất này nằm trong lô đất có diện tích 297m2 thuộc quyền sử dụng đất của bà Trần Thị Kim H, hiện nay ông và ba hộ dân khác đang quản lý sử dụng. Khi mua bán ông không nghe bà D nói về việc chừa đƣ ng đi chung cho bà H. Lô đất này hiện nay vẫn chƣa tách sổ riêng cho các hộ mà vẫn là sổ chung do bà H đứng tên và lô đất có một cạnh tiếp giáp đất của bà Ngô Thị Thu H. Khi phân lô bán nền thì bà H có chừa đƣ ng để cho các hộ dân mua đất phía bên trong có lối đi vào đất và lối đi ra đƣ ng công cộng, con đƣ ng rộng 3,3 mét dài 9 mét (hết chiều dài thửa đất) để làm đƣ ng đi cho các hộ mua bốn nền đất này. Hiện nay đƣ ng đi chung còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Trần Thị Kim H. Con đƣ ng hiện nay đã đƣợc đổ bê tông sạch sẽ. Bà H khởi kiện ông và các hộ dân là vô lý, không hợp pháp vì theo khoản 1 điều 254 bộ luật dân sự 2015 thì chủ sở hữu bất động sản bị bao vây không có lối ra bởi các bất động sản khác thì có quyền yêu cầu và thƣơng lƣợng để có lối ra đƣ ng công cộng. Mặt khác đất của bà Hà rất lớn, có mặt tiền đƣ ng An Nhơn thì tại sao không đi mà đòi mở đƣ ng đi tắt qua đất của ông. Việc bà H có mua đƣ ng đi của bà Châu Kim H với giá 20.000.000 đồng để đi chung qua đất của ông là không có căn cứ, không hợp pháp. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, bị đơn ông Võ Văn Hội trình bày:
Vào năm 2003, ông có mua một lô đất của bà Châu Kim H, diện tích 52m2 (dài 13 mét, rộng 4 mét), năm 2006 ông Hội xây nhà ở. Khi ông về ở thì con đƣ ng đi chung đã hình Th nhƣng đƣ ng xấu có ổ gà, thấp trũng ngập nƣớc. Đến cuối năm 2014 cả xóm họp, đóng góp tiền bạc để làm lại con đƣ ng bê tông đẹp và sạch sẽ hơn. Việc bà H khởi kiện ông ra Tòa án vì cản trở trái pháp luật đƣ ng đi của bà H là không đúng bởi thực tế khu đất của bà H có đƣ ng đi ở trục đƣ ng An Nhơn. Cụ thể khu đất của bà H có số nhà là 38 đƣ ng An Nhơn, khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân B; còn số 122/12 h m 44, khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân B là không có thật. Thửa đất liền kề của bà H là đất của bà Trần Thị Kim H. Việc bà H có mua đƣ ng đi của bà Châu Kim H với giá 20.000.000 đồng để đi chung là không đúng vì bà Châu Kim H không có quyền gì để bán cho bà H đƣ ng đi trên đất của bà H. Có thể việc bà H thông đƣ ng qua h m 44 nhằm phân lô bán đất nền trái quy định gây phức tạp về an ninh trật tự. Do đó ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, bị đơn ông Nguyễn Đình B trình bày:
Vào năm 2014, ông có mua một lô đất của bà bà Phạm Thị H diện tích 90,4m2 (rộng 5 mét, dài 18,17 mét). Cuối năm 2014, ông xây nhà và chuyển về ở, khi ông mua đất thì con đƣ ng đi đã hình Th nhƣng hiện trạng rất xấu, thấp trũng và ngập nƣớc, th i điểm ông làm nhà thì cả xóm họp bàn gom tiền nâng cấp con đƣ ng nên con đƣ ng mới khang trang sạch sẽ nhƣ hiện nay. Việc bà H khởi kiện ông cản trở trái pháp luật đƣ ng đi của bà H là không đúng vì thực tế khu đất của bà H có đƣ ng đi là trục đƣ ng An Nhơn, có số nhà 38 đƣ ng An Nhơn, khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân Bình; còn số 122/12 h m 44, khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân Bình là không có thật. Thửa đất của bà H liền kề đất của bà Trần Thị Kim H. Việc bà H có mua đƣ ng đi của bà Châu Kim H với giá 20.000.000 đồng để đi chung là không đúng vì bà Châu Kim H không có quyền gì để bán cho bà H đƣ ng đi trên đất của bà H. Có thể việc bà H thông đƣ ng qua h m 44 nhằm phân lô bán đất nền trái quy định gây phức tạp về an ninh trật tự. Do đó ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Ngọc C trình bày:
Năm 2007, ông nhận chuyển nhƣợng của bà Nguyễn Thị Kim L một phần thửa đất số 729 t bản đồ E3 đã đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 832 QSDĐ/CNTB do Ủy ban nhân dân huyện Dĩ An (nay là Th phố Dĩ An) cấp ngày 27/6/2000, đến năm 2015 mới làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2012, ông về xây nhà sinh sống tại thửa đất này. Khi ông mua đất con đƣ ng đã hiện hữu và đƣợc bà con trong xóm cải tạo nhiều lần. Việc bà H khởi kiện là không đúng với pháp luật bởi vì phần đƣ ng bà H muốn đi không phải là đƣ ng dân sinh, đây là đƣ ng tự phát theo bản đồ địa chính cuả Ủy ban nhân dân phƣ ng Tân Bình năm 2000. Một phần con đƣ ng trên thuộc thửa đất của bà Trần Thị Kim H nên bà Châu Kim H không có quyền quyết định về việc cho bà H đi con đƣ ng đó. Thửa đất của bà H đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp xúc với đƣ ng An Nhơn. Vì vậy tại sao bà H không sử dụng trực tiếp lối đi đƣ ng An Nhơn mà tranh chấp với ông cùng các hộ dân gây xáo trộn cuộc sống, mất an ninh trật tự, Hoang mang cho các hộ dân. Đề nghị bà H sử dụng lối đi trực tiếp đƣ ng An Nhơn.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Đặng Đôn Th trình bày:
Vào năm 2001, ông Th có mua của ông Nguyễn Hữu L một lô đất với diện tích 135m2 (rộng 5 mét, dài 27 mét) có đƣ ng đi rộng 3 mét, ông và các hộ trong xóm đóng góp tiền làm đƣ ng và trông cột điện. Việc bà Ngô Thị Thu H khởi kiện ông và các hộ dân khác cản trở trái phép đƣ ng đi của bà là không đúng, vì đất của bà H có đƣ ng đi là đƣ ng An Nhơn. Mặt khác lô đất của bà H tiếp giáp với lô đất của bà Trần Thị Kim H nên không có lý do gì mà bà H nói ông Th cản trở đƣ ng đi trong khi đó lối đi chung mà bà H nói lại là đất của ngƣ i khác. Ông Th không đồng ý cho bà H thông đƣ ng qua lối đi vì bà H đã có đƣ ng đi là đƣ ng An Nhơn.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Đức T và người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Đức T là ông H trình bày:
Ngày 11 tháng 12 năm 2003, ông T có mua của ông Nguyễn Hữu L và bà Châu Kim H một lô đất có diện tích 85m2 thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 202 do huyện Dĩ An (nay là Thành phố Dĩ An) cấp ngày 12 tháng 6 năm 1999, hai bên đã đƣợc chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Tân Bình (nay là phƣ ng Tân Bình) xác nhận ký tên, lăn tay và đóng dấu. Đƣ ng đi vào lô đất của ông T rộng 3 mét và là đƣ ng đất. Sau này các hộ dân về ở đã cùng nhau đóng tiền và làm đƣ ng, trồng cột điện, đƣ ng đã nâng cấp 4 lần thành đƣ ng bê tông nhƣ hiện tại. Nay ông T không đồng ý cho bà Ngô Thị Thu H mở lối đi vì lối đi mà bà H muốn mở đi đang thuộc quyền sở hữu của ông T và theo khoản 1 điều 254 bộ luật dân sự năm 2015 chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đƣ ng công cộng có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ. Nhƣng đất của bà H có mặt tiền là đƣ ng An Nhơn nên không đồng ý với yêu cầu của bà H.
- Tại phiên tòa, bị đơn ông Trịnh Minh T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử và đại diện của nguyên đơn đƣa ra căn cứ chứng minh rằng ông có hành vi cản trở việc đi lại của bà H. Đối với yêu cầu của bà H ông không đồng ý.
- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 26/5/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Kim H trình bày:
Bà H có phần đất giáp ranh với đất bà H bán cho các bị đơn nhƣng bà Trần Thị Kim H là ngƣ i đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất giáp ranh đó bà H có làm một cái cổng để đi qua con đƣ ng bê tông hiện nay các hộ dân sinh sống tại h m 44, khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân Bình đang sử dụng, các hộ dân không đồng ý cho bà H đi nên đã đổ bê tông bịt lại, vì thế bà H khởi kiện. Nguồn gốc con đƣ ng: đất nhà bà rộng, dài khoảng 70m, do không có nhu cầu sử dụng hết nên bà phân chia đất ra để bán nền. Khi phân lô bán nền thì bà phải chừa đƣ ng để cho các hộ dân ở phía bên trong có lối đi vào đất và lối đi ra đƣ ng công cộng. Trƣớc đây, bà đã bán 1 nền (nếu tính từ ngoài đƣ ng đi vào dài khoảng hơn 50m) cho một ngƣ i tên C (họ tên, địa chỉ cụ thể bà không biết) diện tích khoảng 23.1m2 (ngang 3,3m, dài 7m) việc mua bán đƣợc thực hiện bằng giấy t tay. Sau khi thanh toán xong ông C xây dựng nhà ở trên đó đƣợc một th i gian thì chuyển đi nơi khác, bà đã mua lại phần đất này của ông C và đập bỏ nhà của ông C xây dựng trƣớc đó mở làm đƣ ng đi. Phần nhà, đất của ông C bà mua lại với giá 40.000.000 đồng, do lúc đó bà không đủ tiền nên đã rủ bà H chung tiền với bà để mua lại nhà, đất của ông C để làm đƣ ng đi sau này. Trƣớc đây bà cũng đã hứa với bà H là sẽ mở cho bà H (vì bà H cũng mua đất của vợ chồng bà) một lối đi phía bên hông để đi ra đƣ ng công cộng do đất của bà H rất dài, nhƣng chƣa biết mở ở vị trí nào, sau đó ông C bán nhà, đất bà thấy hợp lý nên rủ bà H mua chung, bà H đã chung với bà số tiền 20.000.000 đồng để mua.
Phần đƣ ng đi tiếp giáp với nền đất của ông C là đất của bà Trần Thị Kim H, phần đất của bà H có một phần giáp ranh với đất của bà H. Nguồn gốc đất của bà H cũng là nhận chuyển nhƣợng từ gia đình bà, phần đất này bà H đã đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích cụ thể phần đất của bà H bà không nhớ, sau đó bà H không có nhu cầu sử dụng vì nhà bà H ở trên Thành phố Hồ Chí Minh nên bà H đã bán lại cho bà. Việc mua bán giữa bà với bà H chỉ thỏa thuận bằng miệng chứ không lập giấy t , khi bà thanh toán tiền cho bà H xong thì bà H đƣa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho bà giữ. Phần diện tích đất bà H bán lại cho bà, bà phân thành 4 lô để bán cho ngƣ i khác, khi phân lô bà cũng chừa một con đƣ ng rộng 3,3m, dài 9 m (hết chiều dài thửa đất) để làm đƣ ng đi cho các hộ dân mua 4 nền đất này, phần đƣ ng đi này tiếp giáp phía sau phần đƣ ng đi trƣớc đó bà và bà H mua đất của ông C để mở đƣ ng.
Trƣớc đây phần đất giáp ranh giữa đất bà H với phần đất do bà H đứng tên không có bức tƣ ng, bà H chỉ ngăn lại bằng dây kẽm gai nhƣng do mấy hộ dân xả rác qua đất của bà H, các cháu nhỏ qua đất này hái trái cây do bà H trồng, bà H thấy vậy góp ý thì ông Đức A (ở lô cuối của con đƣ ng đi chung - ngƣ i mua phần đất bà H đứng tên) có nhà, đất giáp đất với đất của bà H, đề nghị đƣợc xây tƣ ng lên để tránh tình trạng xả rác và hái trái cây, bà đồng ý và hai bên có viết giấy cam kết khi nào bà có nhu cầu sử dụng đƣ ng thì ông Đức A phải tự nguyện đập bỏ b tƣ ng mà không yêu cầu bồi thƣ ng. Đến nay bà H đập bức tƣ ng để sử dụng lối đi thì các hộ dân cản trở không cho đi và tự xây lại bức tƣ ng chắn giữa đất của bà H với lối đi chung.
Phần đƣ ng đi chung mà các hộ dân cản trở không cho bà H sử dụng khi bà bán đất cho các hộ dân là do bà tự chừa ra, bà đổ đá mi, đá xanh, chôn trụ điện sau đó bà mới bán đất. Hiện nay phần đƣ ng đi chung này còn nằm trong giấy chứng nhận cấp cho ông L (chồng bà). Còn phần đất bán nền cho các hộ dân thì chỉ có các hộ dân phía bên tay trái (tính từ ngoài đƣ ng đi vào) đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn các hộ dân mua nền đất phía bên tay phải (từ ngoài đƣ ng đi vào) chƣa ai đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, kể cả 4 hộ dân mua phần đất do bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng cũng chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận mà chỉ giữ giấy t mua bán bằng giấy tay với bà.
Hiện trạng con đƣ ng đã đƣợc đổ bê tông sạch sẽ. Khi các hộ dân làm đƣ ng bà không đóng góp gì, bà H cũng không đóng góp nhƣng bà H có nói với bà là các hộ dân đóng góp bao nhiêu thì bà cũng đóng góp nhƣ vậy để sử dụng con đƣ ng đi chung này. Về yêu cầu khởi kiện của bà H, bà đồng ý và đề nghị Tòa án buộc các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở, tháo dỡ bức tƣ ng để bà H đƣợc sử dụng chung con đƣ ng. Vì con đƣ ng đi chung này vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà, vẫn còn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chồng bà là ông Nguyễn Hữu L đứng tên.
- Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 23/10/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu L: thống nhất với phần trình bày của bà Châu Kim H.
- Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan ông Nguyễn Hùng Ph trình bày:
Ông Ph có mua lô đất của bà Trần Thị Kim H, có lối đi chung trên con đƣ ng thuộc h m 44 khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Ông và các hộ khác thuộc sở hữu chung đến nay vẫn chƣa tách thửa, tiếp giáp với lô đất của bà Ngô Thị Thu H. Bà H khởi kiện yêu cầu các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở con đƣ ng là không đúng vì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H không thể hiện đƣ ng đi trên đó. Vì quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến các hộ dân trên phần đất đó nên ông Ph và các bị đơn không đồng ý cho bà H đi chung trên phần đƣ ng đó.
– Tại bản tự khai ngày 14/5/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Th (vợ của ông Phạm Đức A) trình bày:
Năm 2004 chồng bà có mua lô đất diện tích 45m2 (rộng 4,5 mét, dài 10 mét) của bà Châu Kim H, phần đất này nằm trong thửa đất có diện tích 297m2 (dài 33 mét, rộng 9 mét), t bản đồ E3, thửa số 149c, do bà Trần Thị Kim H là chủ sử dụng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này tiếp giáp đất của bà Ngô Thị Thu H. Lô đất của bà H đƣợc bà H tách ra bán cho ba hộ dân khác đang sinh sống trong h m 44 có con đƣ ng đi chung rộng 3 mét dài 9 mét đến nay vẫn chƣa đƣợc tách thửa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H khởi kiện các bị đơn và các hộ dân là vô lý, không hợp pháp vì theo khoản 1 điều 254 bộ luật dân sự 2015 thì chủ sở hữu bất động sản bị bao vây không có lối ra bởi các bất động sản khác thì có quyền yêu cầu và thƣơng lƣợng để có lối ra đƣ ng công cộng. Mặt khác đất của bà H rất lớn, có mặt tiền đƣ ng An Nhơn thì tại sao không đi mà đòi mở đƣ ng đi tắt qua đất của các bị đơn. Việc bà H có mua đƣ ng đi của bà Châu Kim H với giá 20.000.000 đồng để đi chung qua là không có căn cứ, không hợp pháp. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
– Tại biên bản xác minh ngày 15 tháng 10 năm 2020, Ủy ban nhân dân phường Tân Bình cho biết như sau:
Căn cứ quyết định 5330/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc phê duyệt danh mục các tuyến đƣ ng do nhà nƣớc quản lý chƣa đảm bảo về hạ tầng kỹ thuật và kết nối hạ tầng với khu vực cần thông qua Hội đồng tƣ vấn để xem xét, giải quyết việc tách thửa trên địa bàn thành phố Dĩ An thể hiện: phần đƣ ng bê tông (ký hiệu B, C trên mảnh trích lục địa chính ngày 04/9/2020) thuộc danh mục các tuyến đƣ ng do Nhà nƣớc quản lý chƣa đảm bảo về hạ tầng kỹ thuật và thuộc danh sách đƣ ng thông qua hội đồng cá biệt. Tuy nhiên, hiện tại phần đƣ ng bê tông (ký hiệu B, C trên mảnh trích lục địa chính ngày 04/9/2020) vẫn thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hữu L (số giấy chứng nhận 309QSDĐ/CQ.TB cấp ngày 12/6/1999) và bà Trần Thị Kim H (giấy chứng nhận số W647437 cấp ngày 07/5/2003). Theo bản đồ địa chính năm 2005 thể hiện phần đƣ ng bê tông hiện nay là đƣ ng đất. Quy hoạch đối với phần đƣ ng bê tông này theo quyết định số 5330/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An thể hiện giữ nguyên hiện trạng đƣ ng có số thứ tự 45, 47. Số đánh dấu trên bản đồ địa chính cũng là 45, 47.
Kết quả xem xét thẩm định và định giá thể hiện: Khối bê tông có kích thƣớc 2.84m3, đơn giá: 3.726.000 đồng, thành tiền: 10.581.840 đồng
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
+ Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa, đƣơng sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa vắng mặt một số bị đơn và ngƣ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mặc dù họ đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 227,228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và những ngƣ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
Về tố tụng: Các bị đơn ông V Văn H, ông Đào Văn Th, ông Trần Minh C, ông Thái Doãn B, bà Chung Thị H và những ngƣ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim H, bà Châu Kim H, ông Nguyễn Hữu L, ông Nguyễn Hùng Ph, bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Lê Thị Th đã đƣợc tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 26/11/2020 và ngày 15/12/2020 nhƣng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự có tên trên.
Về ngƣ i tham gia tố tụng: Tại đơn khởi kiện ngày 27/4/2020, nguyên đơn xác định ông Phạm Đức A là bị đơn trong vụ án. Quá trình tố tụng nguyên đơn xác định khi nguyên đơn khởi kiện ông Phạm Đức A không còn sinh sống tại địa chỉ số A, khu phố T, phƣ ng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng nên không có hành vi cản trở nguyên đơn vì vậy nguyên đơn xác định lại trong bản tự khai không kiện ông Phạm Đức A. Qua biên bản xác minh do Tòa án tiến hành thể hiện ông Phạm Đức A hiện nay không còn sinh sống tại địa phƣơng đúng nhƣ l i trình bày của nguyên đơn nên Tòa án xác định ông Phạm Đức A không phải lài bị đơn và không triệu tập ông Phạm Đức A trong quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung: nguồn gốc hình thành con đƣ ng: Bị đơn, nguyên đơn, ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều thống nhất con đƣ ng có chiều dài 77,3 m, chiều rộng 3,3 m (ký hiệu B, C trên mảnh trích đo địa chính ngày 04/9/2020) là do ông Nguyễn Hữu L, bà Châu Kim H tự trừ làm đƣ ng đi khi phân lô chuyển nhƣợng cho các hộ dân mua đất, hiện nay con đƣ ng này vẫn thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 309QSDĐ/CQ-TB do UBND huyện Thuận An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 12/6/1999 cho ông Nguyễn Hữu L và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1900QSDĐ/CN.TB do UBND huyện Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/5/2003 cho bà Trần Thị Kim H. Điều này cũng phù hợp với phần ghi chú trên mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 1361-2020 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 04/9/2020, nên là tình tiết chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Các bị đơn cho rằng phần đƣ ng này là thuộc quyền quản lý, sử dụng của các hộ dân trong h m 44 vì khi mua đất của ông L để làm nhà thì đã có đƣ ng nhƣng hiện trạng là đƣ ng đất. Quá trình sinh sống các hộ dân đã bàn bạc gom góp tiền để chỉnh trang đƣ ng nên mới có con đƣ ng bê tông giống nhƣ Tòa án xuống xem xét thẩm định. Khi các hộ dân đóng góp tiền làm đƣ ng thì hộ bà H, bà H không đóng góp và nếu để cho bà H cùng sử dụng đƣ ng đi này thì sẽ gây ra nhiều phiền phức cho các hộ dân sinh sống tại h m 44. Chính vì lý do trên nên các bị đơn không đồng ý cho bà H sử dụng chung con đƣ ng này để đi lại và để cản trở việc sử dụng đƣ ng của bà H các bị đơn đã đổ khối bê tông có diện tích 2.3m2 (chiều ngang 3,3m, chiều dài khoảng 0,69m) phân cách giữa phần giáp ranh đất của bà H và đất của bà H (ký hiệu A trên mảnh trích lục).
Phần đƣ ng đi các bị đơn cản trở không cho nguyên đơn đi lại có diện tích 240.4m2, mục đích sử dụng đất là trồng cây lâu năm, cụ thể: diện tích 26,3m2 (ký hiệu B trên mảnh trích lục) thuộc một phần thửa đất 149e t bản đồ số E3 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Trần Thị Kim H đứng tên và diện tích 211.8m2 (ký hiệu C trên mảnh trích lục) thuộc một phần thửa 149 t bản đồ E3 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Hữu L đứng tên. Quá trình tố tụng Tòa án đã tiến hành triệu tập bà H nhƣng bà H vắng mặt không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng nhƣ ý kiến của các bị đơn. Theo l i trình bày và tài liệu ông Thái Doãn B, bà Lê Thị Th cung cấp trong hồ sơ và l i khai của ông V tại phiên tòa đều khẳng định việc phân lô bán nền phần diện tích đất do bà Trần Thị Kim H đứng tên là do ông L, bà H thực hiện, các hộ dân nhận chuyển nhƣợng từ bà H chứ không phải từ bà H và các hộ dân đã xây nhà sinh sống ổn định từ khi nhận chuyển nhƣợng đến nay không có ai tranh chấp. Nhƣ vậy, việc bà H trình bày bà H nhận chuyển nhƣợng đất của bà H nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên là có căn cứ. Quá trình tố tụng ông L, bà H có ý kiến: đồng ý cho bà H sử dụng chung con đƣ ng này để đi lại, không cản trở việc đi lại của bà H và ông, bà cũng khẳng định hiện nay diện tích đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của ông, bà vì thế các bị đơn không có quyền cản trở việc đi lại của bà H. Do đó, ý kiến của các bị đơn về việc không cho bà H sử dụng chung con đƣ ng này là không có cơ sở xem xét.
Xét, phần đất của bà H tiếp giáp với đƣ ng An Nhơn, đã có đƣ ng đi ra đƣ ng công cộng, không bị các bất động sản khác vây bọc. Tuy nhiên, khi bà H mở con đƣ ng có chiều dài 17,3m, chiều ngang 3,3m (nhƣ hiện nay) để các hộ dân mua đất do bà Trần Thị Kim H đứng tên trên giấy chứng nhận có lối đi ra đƣ ng công cộng thì bà H phải mua lại phần diện tích đất khoảng 23.1m2 (đánh dấu số 17 đến số 16 và từ 16 qua số 11 trên mảnh trích lục) mà trƣớc đó bà H và ông L đã bán giấy t tay cho ông C. Khi mua lại diện tích đất này bà H có góp chung số tiền 20.000.000 đồng để bà H đủ tiền mua. Việc chung tiền cho bà H để mua đất của ông C đƣợc hai bên lập thành văn bản có tựa “Giấy nhận tiền”. Nội dung của “Giấy nhận tiền” thể hiện việc mua lại đất của ông C để làm đƣ ng đi chung với bà Ngô Thị Thu H. Nhƣ vậy, quá trình hình thành con đƣ ng dài 17,3m có phần đóng góp của bà H nên bà H có quyền sử dụng con đƣ ng này để làm đƣ ng đi.
Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phƣ ng Tân Bình thì phần diện tích đƣ ng đi các bị đơn đang cản trở không cho nguyên đơn sử dụng để đi lại thuộc các tuyến đƣ ng cá biệt theo Quyết định 5330/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc phê duyệt danh mục các tuyến đƣ ng do nhà nƣớc quản lý chƣa đảm bảo về hạ tầng kỹ thuật và kết nối hạ tầng với khu vực cần thông qua Hội đồng tƣ vấn để xem xét, giải quyết việc tách thửa trên địa bàn thành phố Dĩ An. Quy hoạch đối với phần đƣ ng bê tông này theo quyết định số 5330/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An thể hiện giữ nguyên hiện trạng đƣ ng có số thứ tự 45, 47. Số đánh dấu trên bản đồ địa chính cũng là 45, 47. Quá trình tố tụng ông T và một số bị đơn trình bày phần diện tích đất khoảng 28m2 (đánh dấu số 17 đến số 16 và từ số 16 qua số 11 trên mảnh trích lục) đã đƣợc bà H chuyển nhƣợng cho ông T nên nó thuộc quyền sử dụng của ông T và ông T xuất trình Hợp đồng chuyển nhƣợng giữa ông T với ông L. Tuy nhiên, theo hồ sơ thu thập đƣợc là mảnh trích đo địa chính ngày 04/9/2020 và hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho các đƣơng sự trong vụ án thì ông T chƣa đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông T cũng không xuất trình đƣợc bản vẽ hoặc tài liệu chứng cứ nhƣ biên bản giao nhận đất nền trên thực địa... thể hiện rằng phần đất 85m2 ông nhận chuyển nhƣợng của bà H, ông L có phần diện tích trùng với phần đƣ ng đi (đánh dấu từ số 17 đến số 16 và từ số 16 qua số 11 trên mảnh trích lục) nên không có cơ sở để xác định phần diện tích đất ông T nhận chuyển nhƣợng của ông L bao gồm cả phần đƣ ng đi, đồng th i Quyết định 5330/QĐ-UBND ngày 08 tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An thể hiện r quy hoạch đối với phần diện tích 240,4m2 (ký hiệu B, C trên mảnh trích lục) là giữ nguyên hiện trạng đƣ ng có số thứ tự 45, 47.
Từ các nhận định tại mục [3], [4], [5], [6] có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản là 3.715.652đ (ba triệu bảy trăm mƣ i lăm nghìn sáu trăm năm mƣơi hai đồng), đƣợc khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp. Nguyên đơn đã quyết toán xong.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc bồi thƣ ng chi phí các bị đơn bỏ ra để đổ khối bê tông với số tiền 10.581.840 đồng và chi phí làm đƣ ng với số tiền 20.000.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn đƣợc chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí không giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 156, 165, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 169, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣ ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Thu H về việc tranh chấp về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật với các bị đơn ông Phạm Văn Nh, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn Th, ông Trịnh Minh T, ông Đặng Đôn T, ông Lê Ngọc C, ông Thái Doãn B, ông Lƣu Xuân H, bà Chung Thị H, ông Nguyễn Đình B, ông V Văn H, ông Nguyễn Trọng Nh, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn Vu, ông Đào Hữu M, ông Đào Văn Th và ông Trần Minh C.
- Buộc các bị đơn ông Phạm Văn N, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn Th, ông Trịnh Minh T, ông Đặng Đôn T, ông Lê Ngọc C, ông Thái Doãn B, ông Lƣu Xuân H, bà Chung Thị H, ông Nguyễn Đình B, ông V Văn H, ông Nguyễn Trọng Nh, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn V, ông Đào Hữu M, ông Đào Văn Th, ông Trần Minh C và ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hùng Ph, bà Lê Thị Th, bà Nguyễn Thị Tuyết M tháo dỡ khối bê tông có chiều rộng 3,3m, chiều dài 0,75m và 0,63m (ký hiệu A trên mảnh trích lục – có bản vẽ kèm theo).
- Bà Ngô Thị Thu H đƣợc quyền sử dụng đƣ ng đi chung có diện tích 240,4m2 (ký hiệu B, C trên mảnh trích lục), đƣ ng đi tọa lạc khu phố Tân Phú 1, phƣ ng Tân Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị Thu H về việc bồi thƣ ng cho các bị đơn và ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Nh, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn Th, ông Trịnh Minh T, ông Đặng Đôn T, ông Lê Ngọc C, ông Thái Doãn B, ông Lƣu Xuân H, bà Chung Thị H, ông Nguyễn Đình Bình, ông V Văn H ông Nguyễn Trọng Nh, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn V, ông Đào Hữu M, ông Đào Văn Th, ông Trần Minh C, ông Nguyễn Hùng Ph, bà Lê Thị Th và bà Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 30.581.840 đồng (ba mƣơi triệu năm trăm tám mƣơi mốt nghìn tám trăm bốn mƣơi đồng), bao gồm: 10.581.840đ (mƣ i triệu năm trăm tám mƣơi mốt nghìn tám trăm bốn mƣơi đồng) là chi phí các bị đơn bỏ ra để đổ khối bê tông và 20.000.000đ (hai mƣơi triệu đồng) là số tiền hỗ trợ chi phí làm đƣ ng bê tông.
Kể từ ngày ngƣ i đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu ngƣ i phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng ngƣ i phải thi hành án còn phải trả cho ngƣ i đƣợc thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và th i gian chậm thi hành án.
3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, thu thập hồ sơ và định giá: Bà Ngô Thị Thu H tự nguyện chịu số tiền 3.715.652đ (ba triệu B trăm mƣ i lăm nghìn sáu trăm năm mƣơi hai đồng). Bà H đã nộp đủ số tiền chi phí tố tụng trên.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Các bị đơn ông Phạm Văn Nh, ông Nguyễn Văn S, ông Đặng Đôn Th, ông Trịnh Minh T, ông Đặng Đôn T, ông Lê Ngọc C, ông Thái Doãn B, ông Lƣu Xuân H, bà Chung Thị H, ông Nguyễn Đình B, ông V Văn H, ông Nguyễn Trọng Nh, ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Văn V, ông Đào Hữu M, ông Đào Văn Th và ông Trần Minh C phải chịu số tiền án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Ngô Thị Thu H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0040341 ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự Th phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng.
5. Đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣ i lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣ i lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6. Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣ i đƣợc thi hành án dân sự, ngƣ i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - CCTHA DS thành phố Dĩ An; - Đƣơng sự; - Lƣu: VT, HSVA. TH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |