vanban.org

Bản án 107/2020/HSST — Hình sự

TAND TX. Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An Tuyên án 30/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Tôn Q phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,83 gam Methamphetamine cùng phong bì đã niêm phong và 01 ống thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu đen, 01 nắp nhựa màu trắng , 01 que thử chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Tôn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Trần Tôn Q phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀNG MAI,
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107 /2020/HSST
Ngày 30/11/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Bảy, chức vụ: Giáo viên hưu trí tại phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai;

Ông Nguyễn Văn Lĩnh, Bí thư Đoàn xã Quỳnh Liên, thị xã Hoàng Mai.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2020/TLST- HS, ngày 05 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, đối với bị cáo:

Trần Tôn Q, sinh ngày 18 tháng 01 năm 1990, tại huyện Y.T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: xóm Đ.T, xã Đ.T, huyện Y.T, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: lái xe. Tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ văn hoá: 12/12. Con ông Trần Tôn K, sinh năm 1946; con bà Trần Thị S, sinh năm 1955. Vợ, con: chưa có. Tiền án: không. Tiền sự: ngày 11/02/2020, bị Chủ tịch UBND thị xã H.M, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển pháo trái phép. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2020, có mặt.

* Người làm chứng: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1988

Trú tại: khối N.M, phường Q.T, thị xã H.M, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: vào khoảng 21 giờ, ngày 05/10/2020, tại khu vực cầu H.B, thuộc tổ dân phố K.N, phường M.H, thị xã H.M, tỉnh Nghệ An, trong khi Trần Tôn Q đang cất giấu trái phép 1,00 gam ma túy (loại Methamphetamine) trong ví da ở túi quần phía trước của Trần Tôn Q nhằm mục đích để Trần Tôn Q sử dụng, thì bị Tổ công tác Công an thị xã H.M phát hiện, bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 1386/KL-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: mẫu hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Trần Tôn Q gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 1,00g (một phẩy không không gam).

Cáo trạng số 99/CT-VKS-HM ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.M đã truy tố Trần Tôn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Trần Tôn Q phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Trần Tôn Q từ 30 đến 36 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,83 gam Methamphetamine, là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu vật giám định cùng phong bì đã niêm phong và 01 ống thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu đen, 01 nắp nhựa màu trắng, 01 que thử chất ma túy; trả lại bị cáo Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung A20 (màu đỏ, bị vỡ màn hình phía trước, bị cong vênh phía sau) và 01 ví da màu đen, do không chứng minh được đã sử dụng vào việc phạm tội.

* Về án phí: buộc bị cáo Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của cán bộ điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và các hành vi tố tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật về tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Tôn Q khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo Trần Tôn Q đã thực hiện đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.M đã truy tố; thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.M truy tố và buộc tội bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng, không oan sai.

Lời khai trên của Trần Tôn Q hoàn toàn phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, với vật chứng của vụ án thu giữ được của Trần Tôn Q là 1,00 gam ma túy (loại Methamphetamine); phù hợp với lời khai và các bản cung có tại hồ sơ vụ án, với thời gian, địa điểm bị cáo Q thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, với kết luận giám định số 1386/KL-PC09(MT) ngày 09/10/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, chứng minh được hành vi nêu trên của Trần Tôn Q hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H.M truy tố bị cáo Trần Tôn Q về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khi thực hiện tội phạm, Trần Tôn Q có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do muốn có ma túy sử dụng nên vẫn thực hiện tội phạm. Hành vi đó của Trần Tôn Q đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình làm băng hoại các giá trị đạo đức xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người, nòi giống dân tộc, bị công luận lên án. Vì vậy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo Q để răn đe, phòng ngừa tội phạm và cảm hóa, giáo dục người phạm tội.

Trần Tôn Q phạm tội không có tiền án, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có 01 tiền sự (ngày 11/02/2020, bị Chủ tịch UBND thị xã H.M, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển pháo trái phép); có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bố đẻ Trần Tôn Q là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống mỹ, là 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tôn Q, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu cảm hóa, giáo dục người phạm tội cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung, tệ nạn sử dụng ma túy và các tội phạm về ma túy nói riêng đang diễn biến phức tạp tại địa bàn thị xã H.M, cần xử phạt tù đối với Trần Tôn Q, nhưng với mức hình phạt thấp hơn đáng kể so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tôn Q cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Q. Cần cách ly bị cáo Trần Tôn Q ra khỏi xã hội trong thời gian chấp hành hình phạt tù.

Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo Q, do Trần Tôn Q là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhưng không có thu lợi bất chính.

Trần Tôn Q khai số ma túy trên do 01 nam thanh niên bán, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được danh tính của người này, nên không có căn cứ xử lý.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 0,83 gam Methamphetamine (là số ma túy còn lại, sau khi đã lấy mẫu vật giám định) cùng phong bì đã niêm phong và 01 ống thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu đen, 01 nắp nhựa màu trắng , 01 que thử chất ma túy.

- Trả lại bị cáo Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung A20 (màu đỏ, bị vỡ màn hình phía trước, bị cong vênh phía sau) và 01 ví da màu đen, do không chứng minh được đã sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí: buộc bị cáo Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Tôn Q phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Tôn Q 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (05/10/2020).

* Về vật chứng: áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,83 gam Methamphetamine cùng phong bì đã niêm phong và 01 ống thủy tinh màu trắng, 01 ống hút nhựa màu đen, 01 nắp nhựa màu trắng , 01 que thử chất ma túy.

- Trả lại bị cáo Trần Tôn Q 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung A20 (màu đỏ, bị vỡ màn hình phía trước, bị cong vênh phía sau) và 01 ví da màu đen.

Các vật chứng trên đang do Chi cục thi hành án dân sự thị xã H.M quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã H.M với Chi cục thi hành án dân sự thị xã H.M.

* Án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Q phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo Q được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Cỡ chữ