- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Yến H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lưu Yến H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2020.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2020/HS-ST Ngày 31 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Năm
Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:
Lưu Yến H; sinh năm 1983, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: 435/12/12 P, Phường 7, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng trọ số 7, nhà số 30A P, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: H; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu B và bà Lương Ngọc H; có chồng và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không có;
Nhân thân: Ngày 09/01/2015, Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi “Lôi kéo người khác gây rối làm mất trật tự công cộng”. Đã nộp phạt ngày 09/01/2015.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2020 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 35 phút, ngày 28/02/2020, Công an Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính Phòng trọ số 7 nhà số 30A P, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng có mặt Lưu Yến H, lúc này H tự lấy trong túi da màu đỏ đặt dưới đất ra giao nộp 01 hộp nhựa màu đỏ, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 hộp giấy màu đen bên trong có 03 gói nylon chứa tinh thể không màu (H khai tinh thể không màu là ma túy H mua về sử dụng). Công an phường thu giữ ma túy và tạm giữ của H 01 bình dụng cụ sử dụng ma túy tổng hợp và 01 điện thoại đi động hiệu Oppo, sau đó đưa H về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận 8 điều tra, xử lý.
Tại Kết luận giám định số 383/KLGĐ-H ngày 06/3/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- 01 (một) gói được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lưu Yến H và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8, bên trong có:
+ Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (để trong 01 hộp nhựa màu đỏ) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1511g (không phẩy một năm một một gam), loại Methamphetamine.
+ Tinh thể không màu trong 03 gói nylon (để trong 01 hộp giấy màu đen) là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,4833g (không phẩy bốn tám ba ba gam), loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, bị cáo Lưu Yến H khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, do cần ma túy sử dụng nên khoảng 20 giờ ngày 27/02/2020, H dùng điện thoại hiệu Oppo gắn sim số 0775117139 gọi cho người phụ nữ tên H (không rõ lai lịch) hỏi mua 400.000 đồng ma túy và hẹn giao tại Phòng trọ số 7, nhà số 30A P, Phường 16, Quận 8. Khoảng 21 giờ, ngày 27/02/2020, có một thanh niên đi xe mô tô (không rõ lai lịch và biển số xe) đến phòng trọ giao cho H 04 gói ma túy và H đưa cho người thanh niên này số tiền 400.000 đồng. Có ma túy, H cất 03 gói vào 01 hộp giấy màu đen, 01 gói ma túy H lấy ra sử dụng một phần, phần còn lại H cất vào hộp nhựa màu đỏ, đồng thời bỏ toàn bộ số ma túy vào túi da màu đỏ đặt dưới đất, để sử dụng dần. Khoảng 00 giờ 35 phút, ngày 28/02/2020, Công an Phường 16, Quận 8 tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ nơi ở của H thì phát hiện ma túy và bắt quả tang như trên.
Tại bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 02/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lưu Yến H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lưu Yến H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động tạm giữ của bị cáo do có dùng để liên lạc mua ma túy; tịch thu tiêu hủy số ma túy, 01 túi da và 01 bình dụng cụ sử dụng ma túy.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào lúc 00 giờ 35 phút, ngày 28/02/2020, tại Phòng trọ số 7, nhà số 30A P, Phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lưu Yến H có hành vi cất giữ trái phép ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6344 gam, loại Methamphetamine, mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lưu Yến H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Năm 2015, bị cáo bị Công an Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Lôi kéo người khác gây rối làm mất trật tự công cộng”. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Xét khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn, bị cáo đang nuôi con nhỏ, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, hành vi không nhằm mục đích thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 383/2020 Q8; 01 bình dụng cụ sử dụng ma túy và 01 túi da màu đỏ, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và các công cụ dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu tím tạm giữ của bị cáo, xét bị cáo dùng vào việc liên lạc mua ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với người phụ nữ tên H và người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch, quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Phòng trọ số 7, nhà số 30A P, Phường 16, Quận 8, qua xác minh do ông Phạm Châu L sở hữu. Vào tháng 01/2020, ông L cho bị cáo H thuê Phòng số 7 để ở trọ, việc bị cáo dùng nơi ở cất giữ trái phép ma túy ông L không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lưu Yến H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2020.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 383/2020 Q8 có chữ ký giám định viên Võ Anh T và cán bộ Nguyễn Huy L.
+ 01 (một) bình dụng cụ sử dụng ma túy và 01 (một) túi da màu đỏ không nhãn hiệu.
Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu tím (không kiểm tra tình trạng máy bên trong).
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 114/PNK ngày 11/6/2020)
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Lưu Yến H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |