vanban.org

Bản án 107/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tố tụng dân sự năm 2015.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 107/2020/HNGĐ-ST

Ngày: 29/06/2020

HUYỆN CM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hồng; 2. Ông Trịnh Văn Bé. Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh An Giang. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa. Trong ngày 29 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Trương Thị Yến N, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp Long Quới 1, xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt). Bị đơn: Ông Huỳnh Phi C, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp Long Quới 1, xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, và các lời khai nguyên đơn bà Trương Thị Yến N trình bày: Bà và ông Huỳnh Phi C cưới nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang, hôn nhân do ông bà tự tìm hiểu và đươc cha mẹ đồng ý. Vợ chồng chung sống đến giữa năm 2019 thì mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp lối sống, tính tình không hợp, hay cãi nhau nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Phi C. Về con chung: Vợ chồng có

01 con chung tên Huỳnh Ngọc Nhã V, sinh ngày 22/11/2014 hiện nay đang sống với mẹ. Khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Không có. Bị đơn ông Huỳnh Phi C đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông về nội dung đơn khởi kiện của bà N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: - Về thủ tục tố tụng: [1] Bà Trương Thị Yến N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Phi C. Ông Công có nơi cư trú tại ấp Long Quới 1, xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện CM thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Bị đơn ông Huỳnh Phi C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án. - Về nội dung: [3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Yến N và ông Huỳnh Phi C xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ông, bà chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà N trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không hợp lối sống, tính tình không hợp, hay cãi nhau nên ông bà sống lý thân cho đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Huỳnh Phi C. Ông Huỳnh Phi C đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt không rõ lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Yến N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về quan hệ con chung: Bà Trương Thị Yến N xác định vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Ngọc Nhã V, sinh ngày 22/11/2014 hiện nay bà đang chăm sóc nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc vợ chồng ly thân đến nay bà N là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng. Hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án ông

Huỳnh Phi C cũng không có ý kiến gì với bà N trong việc nuôi con chung. Do đó cần để bà N tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do bà Trương Thị Yến N không yêu cầu ông Huỳnh Phi C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến. [5] Về quan hệ tài sản chung: do bà Trương Thị Yến N xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [6] Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà Trương Thị Yến N trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [7] Về án phí: Bà Trương Thị Yến N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. - Các Điều 51, 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình 2014. - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Yến N và xử như sau: - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trương Thị Yến N được ly hôn với ông Huỳnh Phi C. Giấy chứng nhận kết hôn số 291/2013, quyển số 02/2013 do Ủy ban nhân dân xã LĐB, huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 29 tháng 10 năm 2013 không còn giá trị pháp lý. - Về quan hệ con chung: Bà Trương Thị Yến N được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Ngọc Nhã V, sinh ngày 22/11/2014, ông Huỳnh Phi C không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Trương Thị Yến N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Huỳnh Phi C trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. - Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận do bà Trương Thị Yến N xác định không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. - Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà Trương Thị Yến N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người

khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông, bà trong thời kỳ hôn nhân thì bà Trương Thị Yến N và ông Huỳnh Phi C vẫn phải liên đới chịu trách Nệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác - Về án phí: Bà Trương Thị Yến N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007882 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 01 năm 2020. Bà N đã nộp đủ. Bà Trương Thị Yến N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Huỳnh Phi C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ