vanban.org

Bản án 107/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 28/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn Chơn - Nguyễn Trường An"
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M T
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2020/DS-ST
Ngày: 28- 12- 2020.
V/v tranh chấp: “Hợp đồng vay tài
sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M T-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hơn

Ông Nguyễn Thanh Sang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M T, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 28 tháng 12 năm 2020 tại Tòa án nhân dân thành phố M T, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/20120/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1987 ( có mặt)

Nơi cư trú: ấp L H, xã P T, thành phố M T- Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường A, sinh năm 1996 .

Nơi cư trú: ấp L H, xã P T, thành phố M T- Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Của, sinh năm 1965

Nơi cư trú: tổ 12, ấp L H, xã P T, thành phố M T- Tiền Giang.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 17/11/2020)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Ngày 05/3/2020 anh Nguyễn Trường A có viết biên nhận nợ mượn của anh Nguyễn Văn C số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng sẽ trả, vốn lãi là 250.000.000 đồng. Tuy nhiên đến hạn trả nợ cho đến nay anh Akhông trả khoản tiền vốn, lãi nào cho anh C theo thỏa thuận, dù anh C đã đòi nhiều lần nhưng anh Akhông thực hiện.

Nay anh C yêu cầu anh Atrả cho anh C số tiền vốn 200.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật 1,66%/tháng, tiền lãi tính từ ngày 05/3/2020 đến ngày xét xử; Yêu cầu trả một ngay lần khi án có hiệu lực pháp luật.

* Theo các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Nguyễn Trường A là ông ông Nguyễn Văn Của trình bày:

Anh Akhông đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì trong biên nhận 200.000.000 đồng anh Achỉ mượn của anh C số tiền 160.000.000đồng, số tiền còn lại 40.000.000đồng là tiền lãi anh Ađã trả cho anh C. Nay chỉ đồng ý trả 160.000.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

.Đây là vụ án có quAhệ pháp luật tranh chấp là “ Hợp đồng vay tài sản”.

Theo nội dung vụ án: Ngày 05/3/2020, anh Nguyễn Trường A viết biên nhận mượn của Nguyễn Văn C số tiền là 200.000.000 đồng, thời hạn 03 tháng sẽ trả cho anh C vốn, lãi là 250.000.000đồng. Tuy nhiên từ khi hết thời hạn theo thỏa thuận đến nay anh Akhông trả cho anh C khoản tiền vốn và tiền lãi nào anh C đã đòi nhiều lần nhưng anh Ané tránh không thực hiện.

Xét thấy, việc vay mượn thì anh Acó viết biên nhận nợ cho anh C, nhưng khi đến hạn thỏa thuận anh Akhông thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi cho anh C theo đúng số tiền và thời hạn thỏa thuận là vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh C.

Nay anh C yêu cầu anh Atrả cho anh C số tiền vốn vay 200.000.000đồng và tính lãi 1,66%/tháng kể từ ngày 05/3/2020 đến ngày xét xử là 8,5 tháng số tiền 28.220.000 đồng, yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở phù hợp qui định pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Atrình bày chỉ đồng ý trả cho anh C số tiền 160.000.000 đồng, vì trong biên nhận 200.000.000 đồng anh Achỉ mượn của anh C số tiền 160.000.000đồng, số tiền còn lại 40.000.000đồng là tiền lãi anh Ađã trả cho anh C. Anh C không thừa nhận nhưng anh Avà người đại diện theo ủy quyền của anh Akhông đưa ra được tài liệu chứng cứ gì chứng minh trong biên nhận nợ 200.000.000đồng thì phần tiền vốn chỉ có 160.000.000đồng, số tiền còn lại 40.000.000đồng là tiền lãi, anh Ađã trả cho anh C. Đồng thời lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của anh Amâu thuẫn với nội dung biên nhận anh Aviết mượn nợ ngày 05/3/2020 cho nên lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của anh Alà không có cơ sở. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Anh C.

Lãi suất trong trường hợp này được tính như sau:

200.000.000đồng x 1,66%/tháng x 8,5 tháng = 28.220.000đồng

Do đó cần buộc anh Acó nghĩa vụ trả cho anh C số tiền vốn và lãi là 228.220.000đồng. Thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 470 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật

Dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn C.

1/ Buộc anh Nguyễn Trường A có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Văn C số tiền 228.220.000 (Hai trăm hai mươi tám triệu, hai trăm hai mươi nghìn)đồng. Thời giAthực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Achậm thi hành số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Trường A phải chịu là 11.411.000 (Mười một triệu, bốn trăm mười một nghìn)đồng. Hoàn lại cho anh Nguyễn Văn C số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002038 ngày 05/10/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự Thành phố M T, tỉnh Tiền Giang.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ