vanban.org

Bản án 107/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.

Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hạ Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2019/HS-ST
Ngày 10 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Mầu Văn Mùi

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình và ông Phạm Xuân Thọ

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố V

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố V tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Nam - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Nhà văn hóa tổ dân phố Đ, phường ĐT, thành phố V. Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2019/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 106/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:

Hạ Xuân H, sinh ngày 06/9/1994 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn TT, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề ngH: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hạ Xuân H1 và bà Vũ Thị B; vợ là Nguyễn Thị Thùy L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2019 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 13/5/2019, tại khu vực QT, phường HH, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác phòng chống tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt quả tang Hạ Xuân H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện tự khai tên là Hà Vân A.

Tang vật thu giữ gồm có: Thu giữ trên tay phải của H số tiền 400.000đ (H khai nhận là tiền bán ma túy cho Vân A mà có); thu trong túi quần bên trái đang mặc của H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI; thu tại túi quần sau của H 01 Chứng minh nhân dân; thu trên tay phải của Hà Vân A 01 gói ni lon nhỏ bên trong chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, vật chứng được niêm phong có ký hiệu A1 (Hà Vân A khai nhận là ma túy đá vừa mua được của H).

Tại kết luận giám định số 835/KLGĐ ngày 17/5/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý lẫn tạp chất loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,0542g. Khối lượng ma túy Methamphetamine trong 0,0542g mẫu gửi giám định là 0,0412g.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, Hạ Xuân H khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 13/5/2019, H gặp và mua được của một nam giới tên H ( không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000đ tại khu vực xã TL, huyện ML, Thành phố Hà Nội. Sau khi mua được ma túy, H đem về nhà sử dụng một phần, phần còn lại H bán cho Vân A như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 105/CT-VKSTPVY ngày 16/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố bị cáo Hạ Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hạ Xuân H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hạ Xuân H từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ thu giữ của Hạ Xuân H; trả lại Hạ Xuân H 01 chứng minh nhân dân mang tên Hạ Xuân H.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Hạ Xuân H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 13/5/2019, tại khu vực tổ dân phố QT, thuộc phường HH, thành phố V, bị cáo Hạ Xuân H đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện tự khai là Hà Vân A thì bị Tổ công tác Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ là 01 gói nilon bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, được giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0542 gam.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Hạ Xuân H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm.

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhưng hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, hiện tại trên địa bàn thành phố V các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và nghề ngH ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với các người có liên quan đến vụ án gồm: Người phụ nữ mua ma túy của Hạ Xuân H bị bắt quả tang. Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, người này khai tên là Hà Vân A, sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú tại khu hành chính 15, phường LB, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tại biên bản phạm tội quả tang và lời khai Vân A khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã nhờ anh Nghị điều khiển xe máy đưa tới khu vực tổ dân phố QT để mua ma túy đá của H. Sau đó Vân A đã lợi dụng sơ hở để bỏ trốn. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại khu hành chính 15, phường LB, thành phố V nhưng không có người nào tên Hà Vân A có đặc điểm và lai lịch như đã khai. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề cập xử lý sau là có căn cứ.

Người nam giới tên H (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), theo lời khai của Hạ Xuân H là người đã bán ma túy cho H. Cơ quan Công an đã tiến hành xác minh tại Công an xã TL, huyện ML, thành phố Hà Nội về người có tên H và đặc điểm như lời khai của H, tuy nhiên chưa xác định được người này là ai, ở đâu. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề cập xử lý sau là đúng pháp luật.

Anh Đỗ Thanh N là người đã cho người phụ nữ tên Vân A mượn điện thoại để liên lạc và đưa Vân A đi mua ma túy của Hạ Xuân H. Quá trình điều tra anh N khai nhận anh và người phụ nữ có tên là Hà Vân A là bạn bè xã hội, anh N không biết việc Vân A mượn điện thoại của mình để sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Đỗ Thanh N là đúng pháp luật.

Về vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy; đối với số tiền 400.000đ đã thu giữ của bị cáo cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước; đối với 01 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo, do cần tiếp tục xác minh để làm rõ đối tượng có liên quan nên Cơ quan điều tra tạm giữ để xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau là đúng pháp luật. Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Hạ Xuân H, đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả cho bị cáo.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hạ Xuân H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 13/5/2019).

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định; tịch thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ thu giữ của bị cáo Hạ Xuân H; trả lại bị cáo Hạ Xuân H 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hạ Xuân H (đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 07/9/2019).

3. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hạ Xuân H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ