- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thế L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thế L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 107/2019/HS-PT Ngày: 28-6-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - hủ t a phiên t a: Ông Lê Quân Vương;
- ác Thẩm phán:
Ông Trương Văn L;
Ông Bùi Ngọc Thạch.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 98/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Huỳnh Thế L. Do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thế L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Thế L, sinh năm 1992 tại tỉnh Bến Tre. Hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre; trình độ học vấn: 12 12; nghề nghiệp: Buôn bán; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Dương Thị T; bị cáo chưa có v con; tiền án: không; tiền sự, nhân thân: không; bị b t ngày 05 8 2018 và tạm giam cho đến nay (có mặt).
Ngoài ra, trong v án còn có 01 người có quyền l i, nghĩa v liên quan nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm t t như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 04 8 2018, Huỳnh Thế L đang chơi tại quán Bar F thuộc quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, L tìm gặp một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) làm việc tại quán Bar F hỏi mua ma túy với số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn) đồng về sử d ng. Ngay sau đó, người nam đưa cho L 01 (một) gói nilon miệng kéo dính, bên trong có chứa 15 (mười lăm) viên nén màu xanh (thuốc l c) và 03 (ba) gói nilon miệng kéo dính bên trong có ma túy (khay). Sau đó L bỏ 15 (mười lăm) viên nén màu xanh (loại thuốc l c) và 03 (ba) gói nilon miệng kéo dính bên trong có ma túy (loại khay) vào một hộp kẹo màu xanh rồi cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc. Đến khoảng 23 giờ ngày 04 8 2018, L đón taxi về nhà tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để ngủ.
Đến khoảng 13 giờ ngày 05 8 2018, L điều khiển xe mô tô biển số 54K1 - 8328 đến thuê phòng số 200 tại nhà nghỉ P; địa chỉ: Số 00, khu 00, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, L lấy 01 (một) viên nén màu xanh (loại thuốc l c) và một ít ma túy (loại khay) trong 01 (một) gói nilon đựng trong hộp kẹo màu xanh ra sử d ng, số ma túy còn lại L bỏ vào trong hộp kẹo màu xanh và cất trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Lúc này, L dùng điện thoại có số thuê bao 01673.054.643 gọi đến số thuê bao 0937.177.928 của Huỳnh Tấn Đ (Đ là bạn của L), nhờ Đ đem loa đến nhà nghỉ cho L. Sau đó, Đ rủ bạn của Đ gồm: Nguyễn Tuấn A, Nguyễn Thanh P, Nguyễn Hùng H, Trần Hoàng Linh T, Phan Trần Thảo V đến nhà nghỉ P để chơi với Đ thì nhóm người này đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ đến nhà nghỉ Pthì nhìn thấy L đang sử d ng ma túy (khay), L rủ Đ sử d ng chung. Khoảng 15 phút sau, L đi ngủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, nhóm bạn của Đ gồm Huỳnh Tấn Đ, Nguyễn Thanh P, Trần Long An, Nguyễn Tuấn A, Trần Hoàng Linh T, Phan Trần Thảo Vy, Nguyễn Hùng H đến nhà nghỉ P và thấy Đ đang sử d ng ma túy nên nhóm người này sử d ng ma túy chung với Đ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, nhóm người này sử d ng xong. Cùng lúc, Công an phường Chánh Nghĩa kiểm tra hành chính phòng số 200, nhà nghỉ P thì phát hiện, b t quả tang Huỳnh Thế L đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải L treo trên sào trong phòng một hộp kẹo màu xanh, bên trong có chứa 14 (mười bốn) viên nén màu xanh và 03 (ba) gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng, Công an tiến hành thu giữ: 14 (mười bốn) viên nén màu xanh; 03 (ba) gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng; 01 (một) xe mô tô biển số 54K1 - 8328; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có sim số thuê bao 01673.054.643; số tiền 7.410.000 đồng (bảy triệu bốn trăm mười nghìn) đồng; 01 (một) đĩa sành.
Ngày 13/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu giám định số 357, trưng cầu giám định 14 (mười bốn) viên nén màu xanh lá cây (M1) và chất tinh thể màu tr ng đư c đựng trong 03 (ba) gói nilon miệng kéo dính (M1), (M2), (M3) đã thu giữ của Huỳnh Thế L. Ngày 13/8/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có Bản Kết luận giám định số 477 MT-PC54, kết luận mẫu viên nén gửi giám định là ma túy, trọng lư ng 5,5025 gam (M1), loại MDMA; mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma túy, có trọng lư ng: 0,8116 gam (M2), 0,4694 gam (M3), 0,4781 gam (M4), loại Ketamine.
Đối với Huỳnh Tấn Đ, Nguyễn Thanh P, Trần Long An, Nguyễn Tuấn A, Trần Hoàng Linh T, Phan Trần Thảo Vy, Nguyễn Hùng H không biết việc L tàng trữ trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ, P, A, Anh, T, V, H. Tuy nhiên, Đ, Phong, A, Anh, T, V có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huỳnh Tấn Đ, Nguyễn Thanh P, Trần Long A, Nguyễn Tuấn A, Trần Hoàng Linh T, Phan Trần Thảo V mỗi người phạt số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Hiện Đ, P, A, Anh, T, V đã đóng phạt. Do Nguyễn Hùng H chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hậu.
Đối với người nam đã bán ma túy cho Huỳnh Thế L tại quán Bar F. Quá trình điều tra, L khai nhận L không rõ nhân thân, lai lịch của người nam nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với 14 (mười bốn) viên nén loại MDMA, trọng lư ng sau giám định là 3,9022 gam (M1) và 03 (ba) gói nilon miệng kéo dính bên trong có chứa ma túy, trọng lư ng sau giám định là 0,6836 gam (M2), 0,2718 gam (M3), 0,3444 gam (M4) và 01 (một) đĩa sành. Quá trình điều tra xác định, đây là vật chứng của v án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Chi c c Thi hành án dân sự thành phố T.
Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 54K1 – 8328 (số khung Y-615555, số máy E-5115633) đã thu giữ của Huỳnh Thế L do anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1957; địa chỉ: Số 00, đường Phùng H, Phường 00, Quận 00, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe. Quá trình điều tra, Huỳnh Thế L khai nhận đây là xe mô tô L mua của một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) vào năm 2017 nhưng không làm thủ t c sang tên. Quá trình làm việc, anh Nguyễn Văn V khai nhận anh V đã bán xe mô tô nói trên cho một người nam (không rõ nhân thân, lai lịch) vào khoảng giữa năm 2012 nhưng chưa làm thủ t c sang tên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển Chi c c Thi hành án dân sự thành phố T.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có sim số thuê bao 01673.054.643 và 7.410.000 đồng (bảy triệu bốn trăm mười nghìn). Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của Huỳnh Thế L, không liên quan đến v án nên ngày 12 8 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả cho L theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 120.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
ử phạt bị cáo Huỳnh Thế L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 05/8/2018.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 15 4 2019, bị cáo Huỳnh Thế L kháng cáo xin đư c giảm nhẹ hình phạt (đơn kháng cáo trong thời hạn luật định).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Về thời hạn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thế L đúng theo thời hạn luật định. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là phù h p. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã đư c tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Huỳnh Thế L đã khai nhận hành vi phạm tội phù h p với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, bản cáo trạng và tại phiên tòa sơ thẩm như sau: Vào khoảng 14 giờ ngày 05 8 2018, bị cáo L và nhóm bạn đến thuê phòng số 200 tại nhà nghỉ P; địa chỉ: Số 00, khu 00, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sử d ng ma túy. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Công an phường C kiểm tra hành chính phòng số 00, nhà nghỉ P thì phát hiện, b t quả tang Huỳnh Thế L đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải L treo trên sào trong phòng một hộp kẹo màu xanh, bên trong có chứa 14 (mười bốn) viên nén màu xanh và 03 (ba) gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng, Công an tiến hành thu giữ: 14 (mười bốn) viên nén màu xanh; 03 (ba) gói nilon bên trong có chứa tinh thể màu tr ng; 01 (một) xe mô tô biển số 54K1 - 8328; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen có sim số thuê bao 01673.054.643; tiền Việt Nam 7.410.000 đồng (bảy triệu bốn trăm mười nghìn) đồng; 01 (một) đĩa sành. Kết quả giám định ma túy thu giữ t bị cáo L 14 (mười bốn) viên nén màu xanh lá cây (M1) và chất tinh thể màu tr ng đư c đựng trong 03 (ba) gói nilon miệng kéo dính (M1), (M2), (M3) đã xác định mẫu viên nén gửi giám định là ma túy, trọng lư ng 5,5025 gam (M1), loại MDMA; mẫu tinh thể gửi giám định đều là ma túy, có trọng lư ng: 0,8116 gam (M2), 0,4694 gam (M3), 0,4781 gam (M4), loại Ketamine. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Huỳnh Thế L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
ét kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thế L về việc xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo Huỳnh Thế L là nguy hiểm cho xã hội. MDMA và Ketamine là chất ma túy n m trong danh m c các chất ma túy đư c dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của nhà nước. Ma túy không chỉ huỷ hoại sức khoẻ con người mà còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hết sức nguy hiểm, không những xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với chất ma túy mà còn ảnh hư ng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật, khi bị phát hiện s bị tr ng trị một cách nghiêm kh c nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm cho thấy bị cáo bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Tòa án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với mức độ, tính chất của hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo Huỳnh Thế L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp đư c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù h p nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Thế L phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thế L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2019/HS-ST ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
ử phạt bị cáo Huỳnh Thế L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày 05/8/2018.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: p d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Thế L phải nộp 200.000 đồng.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án. .
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố T; 2 - VKSND thành phố T; 1 - Chi c c THADS TP T; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thành phố T; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo. - Lưu: Tổ HCTP, HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quân Vƣơng |