vanban.org

Bản án 107/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Mùa A Lvà bị cáo Mùa A Tphạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa A L 20 ( Hai mươi ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/8/2018”. Xử phạt bị cáo Mùa A T 12 ( Mười hai ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/8/2018”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L + Thanh tàng trữ trái pheps chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Mùa A Lvà bị cáo Mùa A Tphạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2018/HSST
Ngày: 31 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Thủy - Chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La ( Nguyên là giáo viên ).

2. Bà Nguyễn Thị Lư - Phó ban pháp chế Hội đồng nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La ( Nguyên là bí thư huyện đoàn ).

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hà Phương Giang - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số; 108/2018/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2018/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 10 năm 2018, đối với các bị cáo.

1. Mùa A L; tên gọi khác, không, sinh năm 1973. Trú tại; bản Bó Nhàng 0, xã VH, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Giới tính nam, tôn giáo không, quốc tich Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Mùa A X sinh năm 1925, con bà; Giàng Thị D ( Đã chết ). Bị cáo có vợ; Sồng Thị M 48 tuổi ( Đang đi tập trung cai nghiện bắt buộc) và 03 con, con lớn nhất 19 tuổi, con nhỏ nhất 15 tuổi. Tiền án, tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2018 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Mùa A T; tên gọi khác, không, sinh ngày 31/12/2001. Trú tại; bản Bó Nhàng 0, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La. Giới tính nam, tôn giáo không, quốc tich Việt Nam. Dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông; Mùa A L 45 tuổi, con bà; Sồng Thị M 48 tuổi( Đang đi tập trung cai nghiện bắt buộc). Bị cáo chưa có có vợ con; Tiền án, tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2018 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Mùa A T: Ông Mùa A X, sinh năm 1925 ( Là ông nội bị cáo Mùa A T ).

Trú tại: Bản Bó 0233 ,xã V, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Mùa A T: Ông Đàm Mạnh Hùng - Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

* Người phiên dịch cho bị cáo Mùa A L, Mùa A T: Chị Vì Thị D, trú tại: Bản HT, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện Ban chấp hành Đoàn xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La: Do anh Hoàng Văn D - Phó bí thư là đại diện. Có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1. Anh Giàng A Ch.

Địa chỉ: Bản Chua Tai, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Anh Hoàng Anh T.

Địa chỉ: Bản Bó Nhàng 2, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

3. Anh Lầu A X.

Địa chỉ: Bản Bó Nhàng 2, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 14 giờ, ngày 23/8/2018, tổ công tác Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Tà Dê, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Tiến hành kiểm tra hành chính đối với Mùa A Lvà Mùa A T đều trú tại bản B, huyện Vj, tỉnh Sơn La. Qua kiểm tra phát hiện Mùa A T đang cất giấu trong túi quần phía trước bên trái đang mặc 01 lọ nhựa bên trong 01 gói bột mầu trắng L và T khai là Heroine L vừa mua được để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mùa A Lvà Mùa A T đang có hành vi vận chuyển, cất giấu trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ vật chứng của Mùa A L, Mùa A T gồm có.

01 lọ nhựa để đựng Heroine. 01 gói ni lon màu hồng , bên trong đựng chất bột màu trắng nghi là Heroine ( L và T khai là Heroine ) cân tịnh được khối lượng 0,32 gam, rút 0,16 gam làm mẫu gửi giám định chất ma túy còn lại 0,16 gam ( Đã được niêm phong).

Tại bản kết luận giám đinh số: 992 ngày 27/8/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “LT” là chất ma túy; loại chất Heroine. Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 0,32gam, loại chất Heroine”.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và những lời khai tại cơ quan điều tra, Mùa A L, Mùa A T khai nhận hành vi phạm tội như sau.

Bản thân Mùa A L và Mùa A T là bố con đều là đối tượng nghiện chất ma túy, thời gian từ năm 2017, Lvà T thường xuyên đi vào các bản Lũng Xá, Tà Dê thuộc xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ để làm thuê. Số tiền làm thuê L sử dụng vào việc sinh hoạt và mua ma túy cùng T cất giấu để sử dụng. Khoảng 13 giờ ngày 23/8/2018, L và T đang đi bộ trên đường dân sinh của bản Tà Dê, xã Lóng Luông thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết. L đã hỏi và mua được của người phụ nữ đó 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá là 20.000 đồng. L cho gói Heroine vào 01 chiếc lọ nhựa nhặt được ở ven đường rồi đưa cho T cất giấu để cùng nhau sử dụng. Sau khi nhận số ma túy T cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi cùng Li bộ về nhà, trên đường đi thì gặp tổ công tác Công an huyện Vân Hồ, kiểm tra phát hiện thu giữ của Mùa A L và Mùa A T 0,32 gam Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 79/CT-VKS ngày 12/10/2018 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Mùa A L và Mùa A T về tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Mùa A L, Mùa A Thphạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Mùa A L mức án phạt tù từ 18 ( Mười tám) tháng tù đến 24 ( Hai mươi tư ) tháng tù.

Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 17, Điều 58, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 98, Điều 101Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị xử phạt bị cáo Mùa A Th mức án phạt tù từ 12 ( Mười hai ) tháng tù đến 15 ( Mười lăm ) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Mùa A Lvà Mùa A T được quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì bên trong đựng 0,16 gam Heroine của các bị cáo và vỏ gói niêm phong ban đầu, 02 tset que thử ma túy.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố các bị cáo Mùa A L, Mùa A T về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và quan điểm luận tội tại phiên tòa đối với các bị cáo.

Ý kiến của các bị cáo Mùa A L, Mùa A Tnhất trí như Quyết đinh truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đối với các bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Mùa A T: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo Mùa A Th khi phạm tội bị cáo đang ở độ tuổi vị thành niên chưa đủ 18 tuổi, bị cáo lại là người dân tộc thiểu số khả năng hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế có nhiều tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng ¾ mức hình phạt tù thấp nhất trong khung hình phạt.

Ý kiến của đại diện hợp pháp của bị cáo Mùa A T: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, nhất trí với lời bào chữa của vị Luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì.

Ý kiến của đại diện Ban chấp hành đoàn xã Vân Hồ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Mùa A T là vị thành niên dưới 18 tuổi đề nghị áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Ngày 23/8/2018, Mùa A L và Mùa A Th đều trú tại bản 00, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Bị phát hiện và bắt quả tang tại khu vực bản Tà Dê, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đang cùng nhau vận chuyển, cất giấu trái phép khối lượng 0,32 gam Heroine. Mục đích cùng nhau mua lại, vận chuyển 0,32 gam Heroine, cất giấu tàng trữ để cùng nhau sử dụng cho các bản thân. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai tại cơ quan điều tra, Kết luận giám định ma túy, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện đủ căn cứ kết luận các bị cáo Mùa A L, Mùa A T phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, vi phạm Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 như Quyết định truy tố và Quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng pháp luật.

Tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định“ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

a,............................

b,..............................

c, Heroine, cocain, Methamphetamine, Amphetaminne, MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

. Xét hành vi cùng nhau mua lại vận chuyển, cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Mùa A L, Mùa A T với số lượng tàng trữ không lớn. Mục đích cùng nhau mua ma túy, vận chuyển,cất giấu tàng trữ để cùng nhau sử dụng cho bản thân. Bị cáo Mùa A L là người trực tiếp dùng tiền mua, đưa lại cho bị cáo Mùa A T cất giấu ma túy, để cả hai trực tiếp thực hiện tích cực việc thực hiện phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý cuả Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tệ nạn ma tuý. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương cần vận dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo Mùa A Lvà Mùa A T.

. Xét nhân thân các bị cáo Mùa A L, Mùa A Th phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải, là những tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhân thân bị các bị cáo là dân tộc thiểu số trình độ văn hóa hiểu biết pháp luật còn hạn chế là tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo phạm tội trong vai trò đồng phạm cần vận dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhân thân bị cáo Mùa A T khi phạm tội bị cáo là vị thành niên chưa đủ 18 tuổi cần áp dụng những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội vận dụng Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015. Nhân thân bị cáo Mùa A L đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhiều năm đã được xóa tiền sự, bị cáo Mùa A T xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo Mùa A T được quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét quan điểm luận tội taị phiên tòa của Viện kiểm sát nhân dân, ý kiếm của Luật sư bào chữa của bị cáo Mùa A T, ý kiến đại diện hợp pháp của bị cáo Mùa A T, ý kiến bị cáo Mùa A Lđều đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật. Xong các bị cáo đều nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nước cấm, các bị cáo am hiểu pháp luật nhưng do coi thường pháp luật nghiện ma túy nên cố tình phạm tội nghiêm trọng. Nay xét thấy cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ thời gian giáo dục các bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và công tác phòng chống tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

. Các bị cáo Mùa A L Mùa A T đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vận dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Mùa A Lcòn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy nhân thân bị cáo là người nghiện ma túy không có tài sản, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mùa A 5.

Nhân thân bị cáo Mùa A t là vị thành niên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mùa A T.

. Về nguồn gốc 0,32 gam Heroine bị thu giữ, theo lời khai của L và Thh là mua của một người phụ nữ dân tộc mông không biết tên và địa chỉ cụ thể, cơ quan cảnh sát điều tra đã điều tra, xác minh ngoài lời khai của Lvà Tra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho Lúa và Thanh.

. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy Heroine bị thu giữ của các bị cáo là hàng quốc cấm, Nhà nước cấm lưu hành và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 lọ nhựa để đựng ma túy, 02 que thử ma túy là công cụ thực hiện tội phạm không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Vận dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điểm a, c, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước vận dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Mùa A L, Mùa A T, Luật sư bào chữa cho bị cáo Mùa A T, người đại diện hợp pháp của bị cáo Mùa A T có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Và Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( Đối với bị cáo Mùa A Thanh ), Điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( Đối với bị cáo Mùa A Lúa ). Điểm a, c, Khoản 2 Điều 106, Khỏan 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố các bị cáo Mùa A Lvà bị cáo Mùa A Tphạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mùa A L 20 ( Hai mươi ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/8/2018”.

Xử phạt bị cáo Mùa A T 12 ( Mười hai ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 23/8/2018”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Mùa A Lvà Mùa A T được quy đinh tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

3.Về vật chứng vụ án: Tuyên tịch thu để tiêu hủy, 0,16 gam Heroine và vỏ gói niêm phong ban đầu, 01 lọ nhựa, 02 que thử ma túy ( Đã được niêm phong).

4. Về án phí: Các bị cáo Mùa A, Mùa A T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng chẵn ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo Mùa A L, Mùa A T , Luật sư bào chữa cho bị cáo Mùa A Tnh, đại diện hợp pháp của bị cáo Mùa A T do ông Mùa A X làm đại diện biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện;

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo; LSBC; ĐDHP;

- Sở Tư pháp;

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Tuấn Long

Cỡ chữ