vanban.org

Bản án 107/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thùy T được nuôi hai người con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 01/6/2000 và Nguyễn Phát L, sinh ngày 15/11/2011 đang ở cùng chị. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Anh Nguyễn Hoàng L có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con khôn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trang - Linh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 107/2017/HNGĐ-ST
Ngày 29-9-2017
V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thanh Hải.

Ông Nguyễn Thanh Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2017/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2017/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy T, sinh năm 1976; cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1978; cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện N, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 8 năm 2017 của chị Nguyễn Thùy T và quá trình tố tụng tại Tòa án chị T trình bày: Chị Nguyễn Thùy T và anh Nguyễn Hoàng L tự nguyện kết hôn vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Lý do chị T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L chủ yếu là do anh L không quan tâm đến cuộc sống gia đình, anh L có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, gia đình đã hòa giải, hàn gắn nhưng cuộc sống không hạnh phúc.

Thời gian chị T và anh L chung sống có hai người con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 01/6/2000 và Nguyễn Phát L, sinh ngày 15/11/2011 hiện nay đang ở cùng chị, sau khi ly hôn các con có nguyện vọng ở với ai thì người đó nuôi và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Hoàng L đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Nguyễn Thùy T được Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh Nguyễn Hoàng L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hoàng L.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thùy T và anh Nguyễn Hoàng L được xác lập vào năm 1999, có đăng ký kết hôn theo luật định nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Trang khai nhận trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được trong khi đó Tòa án đã triệu tập anh L nhiều lần nhưng anh L vẫn không có mặt và không có ý kiến phản hồi điều đó cho thấy bản thân anh L không có thiện chí để hàn gắn. Mặc khác, thời gian chị T và anh L không còn chung sống với nhau đến nay, bản thân anh chị vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu nhằm xoa diệu mâu thuẫn để hàn gắn lại. Xét thấy, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Chị T và anh L có hai người con hiện đang ở cùng chị T và theo chị T xác định các con vẫn phát triển bình thường, để không làm xáo trộn môi trường sống cũng như căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nên chấp nhận giao hai người con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 01/6/2000 và Nguyễn Phát L, sinh ngày 15/11/2011 cho chị T nuôi theo nguyện vọng của các con là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

Anh L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thùy T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị Trang phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, được khấu trừ phần tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị T đã nộp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử vắng mặt anh Nguyễn Hoàng L.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thùy T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thùy T được nuôi hai người con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 01/6/2000 và Nguyễn Phát L, sinh ngày 15/11/2011 đang ở cùng chị. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Anh Nguyễn Hoàng L có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của chị Nguyễn Thùy T.

Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết trong cùng vụ án do đương sự không có yêu cầu.

Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Nguyền Thùy T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013820 ngày 18/8/2017 được khấu trừ.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ