vanban.org

Bản án 1067/2022/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VO THI H"
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1067/2022/HN-ST
Ngày: 11- 8 - 2022
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Phạm Thị Lệ Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Đẹp

2. Bà Trần Thị Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Lâm Minh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại phòng xử Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số

318/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày

29 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số

172/2022/QĐST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị H, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Địa chỉ: xã T, huyện M, Thành phố C.

2. Bị đơn: Ông Hồ Quốc N, sinh năm 1984 (Vắng mặt);

Địa chỉ: xã T1, huyện M, Thành phố C.

NHẬN THẤY:

* Theo Đơn khởi kiện ngày đề ngày 02 tháng 3 năm 2022 và Bản tự khai

ngày 21 tháng 3 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà

Võ Thị H trình bày:

Bà và ông Hồ Quốc N tự nguyện chung sống có đăng ký kết hôn vào năm

2006 tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện M, Thành phố C. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau do chồng hay cờ bạc và khoảng năm 2015 vợ chồng tự quyết định ly thân cho đến nay. Ông bà không còn tình cảm và chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn đựơc. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Hồ Quốc N.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Hồ Võ Như Tuyền, sinh ngày 09

tháng 01 năm 2007; Hồ Võ Anh Tài, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2011 và Hồ Võ Như Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2015. Bà H trực tiếp nuôi cháu Hồ Võ Như Quỳnh, không yêu cầu ông Hồ Quốc N cấp dưỡng cho trẻ Quỳnh; 02 cháu Hồ Võ Như Tuyền và Hồ Võ Anh Tài hiện ông Hồ Quốc N trực tiếp nuôi dưỡng và các cháu đều có nguyện vọng ở với ông N nên bà đồng ý giao 02 cháu cho ông Hồ Quốc N trực tiếp nuôi dưỡng và được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng với 02 cháu Tuyền và Tài.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Không có

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã

thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét thấy đời sống hôn nhân của 02 vợ chồng không thể kéo dài, mục đích

hôn nhân không đạt nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

Về con chung: 03 con chung tên Hồ Võ Như Tuyền, sinh ngày 09 tháng

01 năm 2007; Hồ Võ Anh Tài, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2011 và Hồ Võ Như Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2015. Do cháu Hồ Võ Như Quỳnh đang còn nhỏ và đang ở nguyên đơn nên bà xin được trực tiếp chăm sóc và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con; còn 02 cháu Hồ Võ Như Tuyền và Hồ Võ Anh Tài hiện sống với bố thì bà đồng ý để bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung này. Xét lý do này yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Hồ Quốc N được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không có

mặt.

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81 Luật Hôn

nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét

xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Võ Thị H yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Hồ Quốc N

hiện đang cư trú tại địa chỉ: Số 66/2A ấp Mỹ Hoà 3, xã T1, huyện M, Thành phố

C. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật

Tố tụng dân sự, xác định quan hệ pháp luật vụ án là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc

thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ

Chí Minh.

[1.2] Nguyên đơn bà Võ Thị H có Đơn xin xét xử vắng mặt ngày 28 tháng

6 năm 2022. Đối với bị đơn ông Hồ Quốc N, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn,

Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng

mặt tại phiên tòa và không cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ. Căn cứ khoản 2

Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện

Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị H và ông Hồ Quốc N tự nguyện đăng ký kết hôn, được Ủy ban

nhân dân xã T, huyện M, Thành phố C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số

30 ngày 31 tháng 3 năm 2006 nên là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Về yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị H,

Xét thấy, sau khi kết hôn, vợ chồng bà H và ông N chung sống không H

phúc, mâu thuẫn gia đình xảy ra và sống ly thân từ năm 2015, nay bà H xác nhận

không còn tình cảm với ông N. Về phía ông N dù đã được Tòa án thông báo yêu

cầu xin ly hôn của bà H nhưng không phản hồi, không thể hiện ý chí muốn hàn

gắn đoàn tụ, điều này cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn

nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia

đình, yêu cầu của bà H xin ly hôn ông N là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về con chung:

Bà Võ Thị H khai có 03con chung tên Hồ Võ Như Tuyền, sinh ngày 09

tháng 01 năm 2007; Hồ Võ Anh Tài, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2011 và Hồ Võ

Như Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2015.

Theo Kết quả xác minh của Uỷ ban nhân dân xã T1, huyện M, Thành phố

Hồ Chí Minh ngày 28 tháng 4 năm 2022 thì hiện tại ông Hồ Quốc N đang nuôi 02 con là Hồ Võ Như Tuyền, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2007; Hồ Võ Anh Tài, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2011.

Theo Bản ý kiến ngày 12 tháng 5 năm 2022 của trẻ Hồ Võ Anh Tài và

Hồ Võ Như Tuyền trình bày là đang sống với ông N và đựơc chăm sóc tốt, có nguyện vọng ở với ông N.

Xét trẻ Hồ Võ Như Quỳnh đã ở cùng với bà H từ nhỏ và trẻ Hồ Võ Anh

Tài và Hồ Võ Như Tuyền đang ở với ông N có nguyện vọng ở với ông N. Để ổn định cuộc sống và việc học tập, cần tiếp tục giao trẻ Hồ Võ Như Quỳnh cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giao trẻ Hồ Võ Anh Tài và Hồ Võ Như Tuyền cho ông Hồ Quốc N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 58 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Bà Võ Thị H không yêu cầu ông Hồ Quốc N cấp dưỡng nuôi trẻ Hồ Võ

Quỳnh Như nên ghi nhận. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Hồ Võ Quỳnh Như của ông Hồ Quốc N.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Hồ Võ Anh Tài và Hồ Võ Như

Tuyền của bà Võ Thị H.

Vì lợi ích con chung, sau khi ly hôn bên không trực tiếp nuôi con có

quyền qua lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này, khi cần thiết có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi việc nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự (nợ chung):

Bà Võ Thị H khai không có, và không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét

xử không xét.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị H là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Võ Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí theo

quy định của khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bà Võ Thị H và ông Hồ Quốc N không có mặt tại phiên toà nên có quyền

kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án

hoặc bản án niêm yết theo quy định của khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39,

khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 264, Điều 266,

Điều 267 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 55, Điều 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật hôn nhân

và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức

thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị H;

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị H được ly hôn với ông Hồ Quốc N.

- Về con chung: 03con chung tên Hồ Võ Như Tuyền, sinh ngày 09 tháng

01 năm 2007; Hồ Võ Anh Tài, sinh ngày 09 tháng 01 năm 2011 và Hồ Võ Như

Quỳnh, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2015

Giao trẻ Hồ Võ Như Quỳnh cho bà Võ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng và trẻ Hồ

Võ Anh Tài và Hồ Võ Như Tuyền cho ông Hồ Quốc N trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Hồ Võ Anh Tài và Hồ Võ Như

Tuyền của bà Võ Thị H.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ Hồ Võ Quỳnh Như của ông Hồ

Quốc N.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục

con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây

ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì

người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con

của người đó. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân,

tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có

thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự (nợ chung): Bà Võ Thị H khai

không có và Tòa án không giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Võ Thị H phải nộp 300.000(ba trăm ngàn)đồng, được trừ vào tiền tạm

ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0039039 ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Võ Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ