vanban.org

Bản án 106

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Minh A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
..TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản ánsố:106 /2017/HSST
Ngày: 25/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn.

-Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tạ Công Minh – Phó Chủ tich Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Châu Thành.

2. Bà Phan Thị Quý– Cán bộ hưu trí.

-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Trƣơng Tấn Thành - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 104/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Minh A, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1999 tại tỉnh Tiền Giang (Có mặt);

- Nơi đăng ý HKTT và nơi cư trú: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

- Nghề nghiệp: hông;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

- Trình độ văn hóa: 10/12;

- Con ông Trần Ngọc M và bà Nguyễn Thị Duyên C;

- Bị cáo chưa có v , con;

- Tiền sự: Không;

- Tiền án: Không;

- Bị cáo đư c tại ngoại điều tra.

Bị hại: Võ Minh B, sinh năm 1993 (Vắng mặt);

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan:

1.Nguyễn Thị Duyên C, sinh năm 1979 (Có mặt);

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

2. Trần Minh D, sinh năm 2005-Có người giám hộ là bà Nguyễn Thị Duyên C, sinh năm 1979

Cùng trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang

3.Trần Thuận E, sinh năm 2004

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang

Có người giám hộ là ông Trần Anh F, sinh năm 1966

Trú tại: đường O, phường J, thành phố U, tỉnh Tiền Giang

Người làm chứng:

1. Phạm Thiên G, sinh năm 1996 (Có mặt).

Trú tại: Ấp R, xã Q, huyện W, tỉnh Tiền Giang.

2. Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1954 (Có mặt).

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

3. Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1995 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

4. Trần Anh F, sinh năm 1966 (Vắng mặt).

Trú tại: Ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Minh A bị Viện iểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 04/01/2017, sau khi uống rư u Võ Minh B đến nhà Trần Ngọc M (sinh năm 1977, ngụ cùng ấp) để nói chuyện nhưng không gặp. Tại đây B gặp Trần Minh A (Là con anh M),cả hai nói chuyện thì xảy ra cự cãi, A cùng với B đi ra đường phía trước thì xảy ra xô xát. Trong lúc đánh nhau, A rút con dao giấu sẳn trong người đâm trúng người anh B 3 nhát. Sau đó mọi người can ngăn và đưa anh B đi cấp cứu.

Tại Giấy y chứng số 16/2017 ngày 13/01/2017 của Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang ghi nhận thương tích của Võ Minh B như sau: 01 vết thương lưng 02 cm; 01 vết thương hông trái 1,5cm; 01 vết thương hạ sườn 02 cm phù ruột ra ngoài. Vết thương hạ sườn thấu bụng rách mạc nối lớn # 04cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 49/2017/TT-TTPY-TG ngày 24/01/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang đối với Võ Minh B kết luận: Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%, thương tích do vật sắc nhọn gây nên.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 con dao (Loại dao xếp) bằng kim loại dài 19,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm, trên lưỡi dao có ghi chữ USA, có hai cái lỗ, nơi rộng nhất lưỡi dao là 1,6cm, mũi dao nhọn, cán bằng kim loại màu trắng-đỏ dài 11cm, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu đỏ;

-01 áo sơ mi băng vải dài tay sọc xanh - trắng có dính vết máu màu đỏ. Áo có đặc điểm sau: Túi bên trái bị rách, bên trái túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 11cm, bên phải túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 09 cm, vạt áo bên trái (Cách lai áo bên trái 10cm, cách mép ngoài cùng đường khuy áo bên trái 11,5 cm) có vết rách bờ mép sắc, gọn, dài 3,5cm, lưng áo bên trái (cách lai áo bên trái 13cm, cách mép ngoài cùng đường khuy áo bên trái 26cm) có vết rách bờ mép sắc gọn dài 0,6 cm.

Tại bản cáo trạng số 105/KSĐT ngày 07/9/2017 của Viện iểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Trần Minh A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại hoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện iểm sát nhân dân huyện Châu Thành trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Minh A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại hoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt:

- Áp dụng hoản 2 Điều 104, Điều 33, Điều 45, Điều 47,Điều 69; điều 74, điểm b, p hoản 1, hoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử: Phạt bị cáo Trần Minh A từ 12 -18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm tạm giữ.

Xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm:

- 01 con dao (Loại dao xếp) bằng im loại dài 19,5cm, lưỡi dao bằng im loại màu trắng dài 8,5cm, trên lưỡi dao có ghi chữ USA, có hai cái lỗ, nơi rộng nhất lưỡi dao là 1,6cm, mũi dao nhọn, cán bằng im loại màu trắng-đỏ dài 11cm, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu đỏ;

-01 áo sơ mi băng vải dài tay sọc xanh - trắng có dính vết máu màu đỏ. Áo có đặc điểm sau: Túi bên trái bị rách, bên trái túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 11cm, bên phải túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 09 cm, vạt áo bên trái (Cách lai áo bên trái 10cm, cách mép ngoài cùng đường huy áo bên trái 11,5 cm) có vết rách bờ mép sắc, gọn, dài 3,5cm, lưng áo bên trái (cách lai áo bên trái 13cm, cách mép ngoài cùng đường huy áo bên trái 26cm) có vết rách bờ mép sắc gọn dài 0,6 cm.

Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đư c thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý iến của Kiểm sát viên, bị cáo, của người bị hại và những người tham gia tố tụng hác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh A đã hai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng mà Viện iểm sát đã truy tố.

Bị cáo cho rằng trong lúc cự cãi nên bị cáo nóng giận đã dùng dao đâm liên tục 03 nhát vào người bị hại gây thương tích.

Lời hai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù h p với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y, lời hai của bị hại, người làm chứng và các lời hai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án.

Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã đâm bị hại hi cự cãi, chưa có việc xô xát xảy ra. Lời hai này phù h p với lời hai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời hai của bị hại và các chứng cứ hác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở xác định hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ hung hãn, bị cáo dùng con dao là hung hí nguy hiểm và gây thương tích cho bị hại theo giám định pháp y là 26%. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại hoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo tuy là người chưa thành niên, nhưng vẫn nhận thức đư c hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đư c sức khỏe của người khác đư c pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã dùng con dao bằng kim loại đâm vào vùng trọng yếu của bị hại. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ, ý thức xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người hác đư c pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm hắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tư ng hác.

Tuy nhiên, sau hi phạm tội đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, khi phạm tội là người chưa thành niên nên còn hạn chế về nhận thức pháp luật, bị cáo có nhân thân tốt, bị hại có đơn xin bãi nại. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hình phạt của bị cáo có nhẹ hơn quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sư năm 1999, nên cần áp dụng theo hướng có l i cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hi lư ng hình.

Vật chứng thu giữ:

- 01 con dao (Loại dao xếp) bằng kim loại dài 19,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm, trên lưỡi dao có ghi chữ USA, có hai cái lỗ, nơi rộng nhất lưỡi dao là 1,6cm, mũi dao nhọn, cán bằng kim loại màu trắng-đỏ dài 11cm, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu đỏ;

-01 áo sơ mi băng vải dài tay sọc xanh - trắng có dính vết máu màu đỏ. Áo có đặc điểm sau: Túi bên trái bị rách, bên trái túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 11cm, bên phải túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 09 cm, vạt áo bên trái (Cách lai áo bên trái 10cm, cách mép ngoài cùng đường khuy áo bên trái 11,5 cm) có vết rách bờ mép sắc, gọn, dài 3,5cm, lưng áo bên trái (cách lai áo bên trái 13cm, cách mép ngoài cùng đường khuy áo bên trái 26cm) có vết rách bờ mép sắc gọn dài 0,6 cm.

Xét thấy vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo cùng gia đình đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại hông yêu cầu bồi thường tiếp nên hông xem xét giải quyết trong vụ án này.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng (Nguyễn Hoàng K, Trần Anh F) và người có quyền l i nghĩa vụ liên quan hông làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt

- Tuyên bố bị cáo Trần Minh A (Gờm) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng hoản 2 Điều 104; Điều 33; Điều 45; Điều 47; Điều 69; Khoản 1 Điều 74; Điểm b, p hoản 1, hoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Áp dụng khoản 3 Điều 7; khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc Hội.

Xử: Phạt bị cáo Trần Minh A 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về vật chứng:

Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 con dao (Loại dao xếp) bằng im loại dài 19,5cm, lưỡi dao bằng im loại màu trắng dài 8,5cm, trên lưỡi dao có ghi chữ USA, có hai cái lỗ, nơi rộng nhất lưỡi dao là 1,6cm, mũi dao nhọn, cán bằng im loại màu trắng-đỏ dài 11cm, trên lưỡi dao có dính nhiều vết màu đỏ;

-01 áo sơ mi băng vải dài tay sọc xanh - trắng có dính vết máu màu đỏ. Áo có đặc điểm sau: Túi bên trái bị rách, bên trái túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 11cm, bên phải túi áo bên trái có vết rách nham nhở dài 09 cm, vạt áo bên trái (Cách lai áo bên trái 10cm, cách mép ngoài cùng đường huy áo bên trái 11,5 cm) có vết rách bờ mép sắc, gọn, dài 3,5cm, lưng áo bên trái (cách lai áo bên trái 13cm, cách mép ngoài cùng đường huy áo bên trái 26cm) có vết rách bờ mép sắc gọn dài 0,6 cm.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Minh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có nghĩa vụ quyền l i liên quan đư c quyền háng cáo bản án này trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt đư c quyền háng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày bản án đư c niêm yết hoặc ngày nhận đư c bản án.

Cỡ chữ