- Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ THANH N - VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Thanh N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 262/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2026/HS-PT Ngày: 06-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn.
Các Thẩm phán: 1/ Bà Đoàn Thị Hương Giang
2/ Bà Lê Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 23/2026/HSPT ngày 12/01/2026 đối với bị cáo Võ Thanh N, do có kháng cáo của bị cáo Võ Thanh N đối với bản án hình sự sơ thẩm số 262/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo: Võ Thanh N (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh năm 1991, tại tỉnh C; nơi thường trú: Ấp Đông Thạnh, xã A, tỉnh C; chỗ ở hiện tại: Tổ 7, Khu phố 4, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 10/12; nghề nghiệp: Tài xế; con ông Võ Văn T, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; bị cáo có vợ tên SIU K, sinh năm 1998 và có 01 người con sinh ngày 19/11/2025; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
- Trong vụ án còn có các đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị. Do không có liên quan đến kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo N nên Hội đồng xét xử không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 09/3/2025, Võ Thanh N điều khiển xe ô tô biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ móoc biển số 50RM-062.86 lưu thông trên đường Trần Văn Giàu hướng từ Long An đi Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến gần giao lộ giữa đường Trần Văn Giàu và đường Vĩnh Lộc thuộc ấp 17, xã A1, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 17, xã A2, Thành phố Hồ Chí Minh), N bật xi nhan phải rồi đánh lái chuyển sang làn thứ 2 để vượt xe ô tô phía trước đang lưu thông ở làn xe thứ nhất thì đâm vào phía sau bên trái xe mô tô biển số 59N2-822.89 do chị Phan Thị L điều khiển lưu thông cùng chiều đã vi phạm khoản 2 Điều 13 và khoản 3 Điều 14 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Sau tai nạn, chị L tử vong tại chỗ. Công an xã A1 (nay là xã A2) lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.
Kết quả xác minh Giấy phép lái xe tại Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Vào ngày 25/4/2022, Võ Thanh N được cấp Giấy phép lái xe ô tô hạng "FC", có giá trị sử dụng đến ngày 25/4/2027.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và ma túy đối với Võ Thanh N kết quả: âm tính với chất ma túy, không có nồng độ cồn.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 60/2025/KLGĐTT-PY ngày 20/5/2025 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Phan Thị L là do: Chấn thương sọ não.
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại giao lộ đường Trần Văn Giàu với đường Vĩnh Lộc, đường Láng Le Bàu Cò thuộc ấp 17, xã A1, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: ấp 17, xã A2, Thành phố Hồ Chí Minh). Đoạn đường Trần Văn Giàu hướng lưu thông từ đường Thanh Niên đi đường Võ Trần Chí có 02 làn đường ngăn cách bởi vạch kẻ sơn không liên tục gồm làn đường bên trái rộng 4 mét và làn đường bên phải rộng 3,7 mét.
Kết luận giám định số 1133/KL-KTHS ngày 09/4/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giám định dấu vết cơ học như sau: "1. Dấu vết trượt xước ốp cản phía trước xe ô tô đầu kéo biến số 50H-753.21, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám chất màu đen, nút vỡ bên trái ốp cụm đèn tín hiệu phía sau xe mô tô biển số 59N2-822.89, có chiều từ sau về trước. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.
- Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen, mất chất màu xanh các chi tiết bên trái gầm đầu xe ô tô đầu kéo biển số 50H-753.21 (cạnh dưới ốp cản trước, mặt dưới cac-te dâu, đầu thanh điều hướng trục trước, má trong bánh trước) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh phù hợp với dấu vết trượt xước, in hẳn bám chất màu xanh, màu đen cong các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 59N2-822.89 (lốp bánh sau, phía sau ốp lốc máy, chân chống đứng, cần khởi động, mặt dưới lốc máy, tay lái) có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải, va chạm khi xe mô tô biển số 59N2-822.89 đã ngã phải xuống mặt đường.
- Dấu vết trượt xước, mài mòn các chi tiết bên phải xe mô tô biển số 59N2-822.89 (tay phanh, cung trước chắn bùn, yếm chắn gió, ốp sàn để chân trước, để chân sau, ốp hông, ốp bộ) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
2. Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường nằm trên phần đường bên phải đường Trần Văn Giàu, theo hướng từ đường Thanh Niên đi đường Võ Trần Chí.
3. Khi xảy ra tai nạn giao thông xe ô tô đầu kéo biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 50RM-062.86 lưu thông trên đường Trần Văn Giàu, hướng từ đường Thanh Niên đi đường Võ Trần Chí; xe mô tô biển số 59N2-822.89 lưu thông phía trước cùng chiều.
4. Ngoài các dấu vết nêu trên thì không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 50RM-062.86 và xe mô tô biển số 59N2-822.89 với người, phương tiện hay vật gì khác.
5. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô đầu kéo biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 50RM-062.86 và xe mô tô biển số 59N2-822.89 khi xảy ra tai nạn giao thông."
Kết luận giám định số 1335/KL-KTHS ngày 03/4/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc giám định tình trạng kỹ thuật như sau: "Trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giao thông, hệ thống phanh, hệ thống lái và ga xe ô tô biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ móoc biển số 50RM-062.86 hoạt động bình thường, không bị hư hỏng, không ảnh hưởng đến quá trình điều khiển phương tiện."
Tại Cơ quan điều tra, Võ Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp vời lời khai người làm chứng, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám xe, camera hiện trường, Kết luận giám định pháp y, Kết luận giám định dấu vết va chạm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
*Vật chứng vụ án:
- 01 xe ô tô đầu kéo biển số 50H-753.21 và sơ mi rơ móoc biển số 50RM-062.86, qua xác minh do Công ty TNHH xuất nhập khẩu, giao nhận vận tải Quốc B3 làm chủ sở hữu do anh Trần Quốc B3 làm giám đốc. Quá trình điều tra đã trả xe cho anh Bảo theo quy định.
- 01 xe mô tô biển số 59N2-822.89, số khung: 180X7Y305899, số máy: JF 18E0005919, qua xác minh do chị Phan Thị L đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra đã trả xe trên cho anh Phan Thanh N2 (em ruột chị L) là đại diện hợp pháp của gia đình nạn nhân.
- 01 USB hiệu LECUN màu bạc dung lượng 8G chứa 03 đoạn video ghi nhận diễn biến vụ tai nạn giao thông, lưu theo hồ sơ vụ án.
*Về trách nhiệm dân sự: Võ Thanh N đã bồi thường cho đại diện gia đình chị Phan Thị L (đã chết) là anh Phan Thanh N2 (Đại diện theo ủy quyền của các đại diện hợp pháp của bị hại) số tiền 160.000.000 đồng, anh N2 không yêu cầu bồi thường và làm đơn bãi nại cho bị cáo Võ Thanh N.
*Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh: đã truy tố bị cáo Võ Thanh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và sửa đổi bổ sung năm 2025.
*Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 262/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Xử phạt bị cáo Võ Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt bị cáo.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/12/2025, bị cáo Võ Thanh N có đơn kháng cáo không đồng ý với mức án mà Hội đồng xét xử đã tuyên, xin được được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
*Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo Võ Thanh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, đồng thời đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi tóm tắt nội dung bản án sơ thẩm và nhận thấy đơn kháng cáo của bị cáo là trong thời hạn luật định, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhận thấy cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Võ Thanh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng tội. Về kháng cáo của bị cáo, mức án 01 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Bị cáo Võ Thanh N không tự bào chữa và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Ngày 08/12/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Ngày 12/12/2025, bị cáo Võ Thanh N có đơn kháng cáo không đồng ý với mức án mà Hội đồng xét xử đã tuyên, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo được lập trong thời hạn luật định nên hợp lệ.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 09/3/2025 khi điều khiển xe ô tô biển số 50H-753.21 kéo theo sơ mi rơ móoc biển số 50RM- 062.86 đến gần giao lộ giữa đường Trần Văn Giàu và đường Vĩnh Lộc thuộc ấp 17 xã A1, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là ấp 17, xã A2, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Võ Thanh N đã có hành vi bật xi nhan phải, rồi đánh lái chuyển sang làn thứ 2 để vượt xe ô tô phía trước đang lưu thông ở làn xe thứ nhất nhưng không chú ý quan sát và đâm vào phía sau bên trái xe mô tô biển số 59N2-822.89 do chị Phan Thị L điều khiển lưu thông cùng chiều, làm chị L tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 13 và khoản 3 Điều 14 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Võ Thanh N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị cáo đã khắc phục hậu quả và gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường đồng thời làm đơn bãi nại cho bị cáo.
Về hình phạt đã áp dụng đối với bị cáo, khi lượng hình thì Tòa án nhân dân Khu vực 10 đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại đồng thời đại diện gia đình bị hại cũng đã làm đơn bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu có xác nhận của cấp có thẩm quyền về việc bị cáo là lao động chính trong gia đình có con nhỏ mới sinh ngày 19/11/2025, vợ không có công ăn việc làm ổn định, cha mẹ đều lớn tuổi không có thu nhập thường xuyên và phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như cân nhắc đến nhân thân, phạm tội của bị cáo theo các quy định Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (nay là Điều 2 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có hiệu lực từ ngày 10/7/2025), thì có cơ sở xem xét để chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo khi có tình tiết giảm nhẹ mới và tính đến thời điểm này thì bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Từ đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và sửa án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù và cho bị cáo Võ Thanh N được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách, là cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe đối với bị cáo.
Lập luận trên đây cũng là căn cứ để không chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Thanh N và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 262/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025,
Xử phạt bị cáo Võ Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 06/02/2026).
Giao bị cáo Võ Thanh N cho Ủy ban nhân dân phường B, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú của bị cáo giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu Võ Thanh N cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Võ Thanh N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
3. Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Bị cáo Võ Thanh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - CQ THAHS CA.TP.HCM (1) - CQCSĐT – CA.TP.HCM; (1) - VKSND Khu vực 10; (1) - TAND Khu vực 10; (1) - THADS TP.HCM (1) - Phòng THADS Khu vực 10; (1) - Bị cáo; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ (20) (8) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồng Sơn |