vanban.org

Bản án 106/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Cẩm T đối với anh Nguyễn Văn L. Chị T được ly hôn với anh L.

Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10/01/2023. Giao con chung tên Nguyễn Thanh T1 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Cẩm T đối với anh Nguyễn Văn L. Chị T được ly hôn với anh L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2026/HNGĐ-ST
Ngày 31-3-2026
V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Hoài Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ái Hòa;

Ông Nguyễn Văn Tẻo.

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Minh Nhựt Quang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2025/ HNGĐ - ST ngày 13 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2026/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2026/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2026, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Cẩm T, sinh năm: 1998. CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 27/7/2022 Cục Cảnh sát, QLHC &TTXH. Địa chỉ: khu phố Suối Cao A, phường Gia Lộc, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm: 1992. CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/01/2020 Cục Cảnh sát, QLHC &TTXH. Địa chỉ: khu phố Suối Cao A, phường Gia Lộc, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Cẩm T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh L tiến đến hôn nhân vào năm 2020, đã đăng ký kết hôn cùng năm tại Ủy ban nhân dân xã Phước Đông, huyện Gò Dầu (nay là phường Gia Lộc), tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 79/2020 ngày 01/10/2020. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh L đam mê cờ bạc, bạo lực gia đình thường xuyên đánh đập chị, chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống vợ chồng ly thân từ năm 2024 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: chị và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10/01/2023. Hiện tại cháu T1 đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn L: đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai. Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Tây Ninh đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát khu vực 12 – Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả nguyên đơn và bị đơn là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Cẩm T đối với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: chị T và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10/01/2023. Hiện tại cháu T1 đang sống chung với chị T. Anh L không tranh chấp về nuôi con chung nên khi ly hôn giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị T phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:

Về tố tụng: chị Nguyễn Cẩm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L, anh L có địa chỉ cư trú tại: phường Gia Lộc, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Tây Ninh theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh L là đúng theo quy định.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Cẩm T và anh Nguyễn Văn L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Đông, huyện Gò Dầu (nay là phường Gia Lộc), tỉnh Tây Ninh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 79/2020 ngày 01/10/2020 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cải vã với nhau, do anh L đam mê cờ bạc, bạo lực gia đình thường xuyên đánh đập chị T, chị về nhà cha mẹ ruột sinh sống vợ chồng ly thân từ năm 2024 đến nay nhưng không ai có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh L, dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh L vẫn cố tình vắng mặt, không thể hiện mong muốn hàn gắn gia đình. Xét thấy, hôn nhân giữa chị T và anh L phát sinh nhiều mâu thuẫn vợ chồng ly thân đã lâu nhưng không hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ được, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh L là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: chị T và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10/01/2023. Hiện tại cháu T1 đang sống chung với chị T. Anh L không tranh chấp về nuôi con chung nên khi ly hôn giao con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T1. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Cẩm T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, anh Nguyễn Văn L không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Cẩm T đối với anh Nguyễn Văn L. Chị T được ly hôn với anh L.

2. Về con chung: Chị T và anh L có 01 con chung tên Nguyễn Thanh T1, sinh ngày 10/01/2023. Giao con chung tên Nguyễn Thanh T1 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Cẩm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: 0006897 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

Anh Nguyễn Văn L không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Nguyễn Cẩm T và anh Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ