- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH B Bản án số: 106/2025/HSST Ngày: 06 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thúy Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tạ Thị Mùa
2. Bà Lò Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Ôn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ,tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn T; Không có tên gọi khác;
Sinh ngày: 19/5/1995, tại tỉnh B.
Nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản K, xã T, thành phố Đ, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Thái; Giới tính: N; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Lò Văn N; Con bà: Lò Thị P; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/5/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Đ xét xử và xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản, ngày 31/10/2015 bị cáo chấp hành xong toàn bộ Bản án, nên đương nhiên được xoá án tích; Ngày 25/11/2019, bị cáo bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền. Ngày 02/12/2019 chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cho đến lần phạm tội này, được coi như chưa bị xử phạt hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).
2. Họ và tên: Lò Văn N; Không có tên gọi khác;
Sinh ngày: 05/10/2001, tại tỉnh B.
Nơi thường trú: Bản P, xã T, huyện B, tỉnh B.
Chỗ ở trước khi bị bắt: Bản K, xã T, thành phố Đ, tỉnh B.
Quốc tịch: Việt N; Dân tộc: Thái; Giới tính: N; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Lò Văn H (đã chết); Con bà: Lò Thị P; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án nhân dân nào xét xử, chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào xử lý vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, Lò Văn T rủ Lò Văn N góp tiền đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, N đồng ý rồi đưa cho T 01 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng. Đến 11 giờ cùng ngày trên đường đi làm về tại khu vực Nghĩa trang bản Huổi Phạ, phường H, thành phố Đ, T và N gặp một người đàn ông không quen biết, T đã hỏi mua được 01 gói ma túy được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có các cục chất bột màu trắng đục với giá 200.000 đồng. Mua được ma túy xong, T cầm gói ma túy trong tay phải và cùng N đi vào Nghĩa trang bản Huổi Phạ để sử dụng. Hồi 11 giờ 30 cùng ngày, khi Lò Văn T và Lò Văn N đang chuẩn bị sử dụng ma túy tại Nghĩa trang thuộc bản Huổi Phạ, phường H, thành phố Đ thì bị tổ công tác Công an phường Noong Bua, thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Các bị cáo đều khai nhận vật chứng bị thu giữ là ma tuý, loại Heroine, các bị cáo mua về với mục đích để bản thân sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng hồi 16 giờ 00 phút, ngày 20/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số: 1879/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B kết luận: Các cục chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,12 gam.
Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TPĐBP ngày 27/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58/BLHS, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 14 tháng đến 16 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58/BLHS, xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng, 01 ống kim tiêm dung tích 3ml, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N không có lời bào chữa nào, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ.
Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi của các bị cáo bị truy tố: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, tại Nghĩa trang bản Huổi Phạ, phường H, thành phố Đ, tỉnh B, Lò Văn T và Lò Văn N đã có hành vi cất giấu trái phép 0,12 gam Heroine, mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy và niêm phong lại vật chứng hồi 16 giờ 00 phút, ngày 20/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và kết luận giám định số: 1879/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh B.
Do đó có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với mục đích để sử dụng của các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N là phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, Lò Văn T, Lò Văn N phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51/BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52/BLHS. Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn T là người có nhân thân xấu: Ngày 26/5/2015, bị cáo Toà án nhân dân thành phố Đ xét xử và xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 31/10/2015 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, nên đương nhiên được xóa án tích. Ngày 25/11/2019, bị cáo bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền. Ngày 02/12/2019 bị cáo chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, cho đến lần phạm tội này, được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo là hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để các bị cáo có điều kiện cai nghiện, đồng thời để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Trong quá trình cùng nhau thực hiện tội phạm, các bị cáo T và N khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự câu kết chặt chẽ, không phân công vai trò trách nhiệm cụ thể nên các bị cáo phạm tội không có tổ chức. Bị cáo T là người khởi sướng và là người trực tiếp mua ma túy, nên là người có vai trò chính. Bị cáo N góp tiền cùng bị cáo T mua ma túy về sử dụng chung, nên có vai trò tích cực. Do vậy, cả hai bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng ma túy là 0,12 gam Heroine.
. Từ những phân tích trên khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố các bị cáo Lò Văn T và Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS, là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Các bị cáo là người sử dụng ma túy, đều nhận thức rõ hành vi cất giấu trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, với khối lượng ma túy mà các bị cáo đã tàng trữ, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của từng bị cáo, thì mức hình phạt mà đại diện viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Đối với người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho bị cáo T, các bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ của người này, cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Vật chứng: Đối với 0,05 gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật nhà nước cấm tàng trữ, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 bơm kim tiêm dung tích 3ml, là vật không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58/BLHS.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 20/12/2024).
- Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 20/12/2024).
2.Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 0,05gam Heroine (Vật chứng hoàn lại sau giám định), 01 mảnh nilon màu trắng, 01 ống kim tiêm dung tích 3ml (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2025 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B).
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136/BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Lò Văn T, Lò Văn N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333/BLTTHS, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/5/2025).
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSNDTPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - Cơ quan điều tra, Công an tỉnh ĐB; - Phòng CSTHAHS và HTTP Công an tỉnh ĐB; - Phòng HSNV, Công an tỉnh ĐB; - Phân trại tạm giam khu vực TP Đ; - Sở Tư pháp tỉnh B; - Chi cục THA TPĐBP; - TAND tỉnh B; - HS THA Hình sự; - Lưu HS vụ án; Lưu VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thúy Thành |