vanban.org

Bản án 106/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 26/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Xử phạt: Quàng Văn N 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quàng Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8- BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HS- ST
Ngày 26- 12- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Hợp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phú.

Bà Nguyễn Thị Mận.

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh.

Đại diện VKSND khu vực 8- Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân khu vực 8- Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2025/TLST- HS ngày 10/ 12/ 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST- HS ngày 11/ 12/ 2025, đối với bị cáo:

Quàng Văn N, sinh ngày 02/10/2007 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 10 tháng 04 ngày);

Nơi cư trú: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông: Quàng Văn T và bà Quàng Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị C- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Bắc Ninh số 2. Có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị L, sinh năm 1965 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Thọ T, sinh năm 1993. Vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lường Văn M, sinh năm 2003. Có mặt.

Trú tại: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La.

2. Ông Quàng Văn T, sinh năm 1979. Có mặt.

Trú tại: Bản N, xã C, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 17 phút ngày 06/9/2025 tại ngã ba đường gom Khu Công nghiệp Quế Võ I, thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe mô BKS 26AA - 562.58 do Quàng Văn N, sinh ngày: 02/10/2007 trú tại bản N, xã C, tỉnh Sơn La điều khiển đi hướng phường P đi phường Nam Sơn va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965, trú tại khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh điều khiển đi ngược chiều đang chuyển hướng. Hậu quả bà Nguyễn Thị L chết trên đường đi cấp cứu, Quàng Văn N bị T, 02 phương tiện bị hư hỏng.

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành các hoạt động điều tra xác định vụ tai nạn giao thông như sau:

* Khám nghiệm hiện trường:

Các dấu vết trên hiện trường:

Vết cày xước (01) kích thước (1,2 x 0,12)m ở trên mặt đường của chiều đường hướng phường P đi phường Nam Sơn, điểm đầu cách mép đường 1,2m; cách điểm khởi đầu vết (2) là 2,9m.

Vết cày xước (02) kích thước (15x0,02)m ở trên mặt đường chiều đường hướng phường P đi phường Nam Sơn, cách vết cày xước (01) 2,9m, điểm đầu hướng phường P cách mép đường 1,2m; điểm kết thúc hướng vào đầu bàn để chân người điều khiển, bàn dậm chân phanh bên phải xe mô tô.

Xe mô tô biển kiểm soát 26AA - 562.58 ở tư thế nằm đổ ngã về phía bên phải xe theo hướng phường P đi phường Nam Sơn. Phần đầu xe hướng phường Nam Sơn hơi chếch ra tâm đường, phần đuôi xe hướng phường P hơi chếch vào mép đường. Đầu trục giữa bánh lốp trước bên trái cách mép đường 50cm; đầu trục giữa bánh lốp sau bên trái cách mép đường 10cm; cách điểm mốc cố định là (4,6x2,2)m; cách đầu trục giữa bánh lốp sau bên phải xe đạp là 5,6m.

Xe đạp Mini ở vị trí nằm đổ ngã về phía bên trái xe xuống mặt đường gần giữa tâm đường, ở trên chiều đường hướng phường Nam Sơn đi phường P. Phần đầu xe hướng phường Nam Sơn hơi chếch vào mép đường bên trái hướng phường P đi phường Nam Sơn; phần đuôi xe hướng phường P chếch ra tâm đường. Đầu trục giữa bánh lốp trước cách mép đường chuẩn là 5,5m; đầu trục giữa bánh lốp sau bên trái cách mép đường chuẩn là 5,4m; cách điểm gần nhất vùng máu vị trí số (5) là 12,5m.Vùng máu (01) kích thước (0,4x0,3)m ở trên bề mặt đường chiều đường bên phải hướng phường P đi phường Nam Sơn, cách vị trí bánh lốp sau bên phải xe đạp về hướng phường P 12,5m. Điểm gần nhất cách mép đường chuẩn là 2,1m. Tại vùng máu này có 01 mũ vải.

Vùng máu (02) kích thước (2,3x0,3)m ở trên bề mặt đường bên phải của chiều đường hướng phường P đi phường Nam sơn. Cách vùng máu (01) 60cm về hướng phường P. Điểm khởi đầu tập trung của vùng máu cách mép đường 2,3m; sau đó vùng máu chảy dần vào mép đường.

Sau khi khám nghiệm hiện trường, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh tạm giữ: 01(một) xe mô tô 26AA -562.58, bị hư hỏng; 01(một) xe đạp, bị hư hỏng.

Tiến hành rà soát camera tại hiện trường, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh tạm giữ 02 (hai) USB, mỗi USB chứa 01(một) tệp tin video có tên “7038220376031” ghi nhận lại diễn biến vụ tai nạn giao thông của cửa hàng điện thoại Tuyết Bảo thuộc khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh (01 USB để phục vụ việc điều tra, 01 USB để phục vụ việc giám định).

* Khám nghiệm phương tiện:

+ Xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vario, màu xám tím, biển kiểm soát: 26AA – 562.58:

Mặt trước ngoài đầu tay lái bên phải có dấu vết xước kích thước (4,5x2)cm chiều từ trước về sau. Mặt trước đầu tay phanh bên phải có dấu vết xước kích thước (1,2x1)cm.

Bánh trước và hai giảm xóc bị xoay vặn lệch sang phải so với đầu xe. Bánh trước bị dồn đẩy về sau, ép sát vào ốp nhựa phía sau. Giảm xóc bên phải cong về sau. Mặt ngoài giảm xóc này và ốc đầu trục bên phải có dấu vết xước kích thước (5x3)cm có bám chất màu nâu, màu đen cách mặt đất 26cm.

Nửa phía trước chắn bùn phía trước có dấu vết vỡ bung kích thước (26x14)cm. Mặt trên và mặt ngoài bên trái có dấu vết trượt xước bám chất màu đen kích thước (25x17)cm chiều từ trước về sau cách mặt đất thấp nhất và cao nhất lần lượt là 55cm và 65cm.

Vỡ mặt đèn pha bên phải, ốp mặt phía trên và dưới mặt đèn này có vết trượt xước có bám chất màu đen kích thước (25x11)cm, cách mặt đất cao nhất và thấp nhất lần lượt là 79 cm và 66 cm. Nứt vỡ mặt đèn pha bên trái.

Mặt ngoài cánh yếm bên phải có dấu vết xước kích thước (26x14)cm chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.

Mặt ngoài ốp bên phải dưới sàn để chân có dấu vết xước kích thước (26x8)cm chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.

Mặt ngoài bàn để chân sau bên phải và tai gắn bàn để chân có dấu vết xước (8,5x2)cm chiều từ trên xuống dưới.

Mặt ngoài ốp nhựa sườn bên phải và tay nắm đuôi xe có dấu vết xước kích thước (28x0,4)cm chiều từ trước về sau.

Đầu ngoài đèn báo rẽ sau bên phải có dấu vết xước kích thước (1x0,8)cm chiều từ trước về sau.

Mặt ngoài ốp ống xả có dấu vết xước (33x5)cm chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới.

+ Xe đạp mini, màu sơn đen:

Giỏ xe bị biến dạng dồn đẩy ra trước bên trái. Mặt bên phải giỏ có dấu vết lõm kích thước (26x17)cm.

Bánh trước rời ra khỏi càng trước, hai càng trước có dấu vết cong sang phải, vị trí cong sát với chạc ba.

Mặt ngoài bàn đạp bên trái có dấu vết xước kích thước (5x2,5)cm. Mặt ngoài đầu phía sau bên trái có dấu vết xước kích thước (1x0,8)cm.

Mặt ngoài phía dưới bên phải khung giữa xe, dây phanh dưới khung và đai giữ dây phanh có dấu vết trượt mất sơn đen kích thước (23x3)cm chiều từ phải sang trái, dấu vết cách mặt đất thấp nhất và cao nhất lần lượt là 44cm và 63cm.

* Khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị L:

Khám ngoài:

Vùng đỉnh bên trái đến vùng đỉnh chẩm trái có diện phù nề kích thước (12x10)cm. Vùng chẩm phải ngay sát đường giữa và cách trên đường chân tóc gáy 6,5cm có diện sưng nề, bầm tụ máu kích thước (7x6)cm. Vùng trán phải sát với đường giữa và cách dưới đường chân tóc trán 2,5cm có vết sây sát kích thước (2x0,5)cm. Vùng cung lông mày phải đến vùng mắt phải và gò má phải có diện bầm tụ máu, rách da kích thước (7x6,5)cm. Quầng tím quanh mắt trái. Hai lỗ tai khô; mũi, miệng có máu chảy ra khi thay đổi tư thế. Bầm tụ máu môi trên, môi dưới bên phải ngay sát góc miệng kích thước (2x2,5)cm.

Ngực phải mất vững. Bụng chướng nhẹ. Vùng bụng phải cách đường giữa 6cm và cách dưới rốn 9cm đến vùng mặt trước ngoài hông phải có một số vết sây sát da trên diện: (18x12)cm. Vùng thắt lưng hai bên có nhiều vết sây sát da trên diện (14x10)cm, bên trái nhiều hơn bên phải.

Mặt trước ngoài 2/3 trên cánh tay phải có diện bầm tụ máu không liên tục kích thước (20x10) cm. Mặt sau cổ tay trái đến mu bàn tay có nhiều vết bầm tụ máu trên diện (12x8) cm. Mặt trước ngoài nửa dưới đùi phải có nhiều vết bầm tụ máu trên diện (22x14) cm, gãy kín 1/3 dưới xương đùi phải. Mặt trong 1/3 dưới đùi phải có một số vết bầm tụ máu trên diện (13x5)cm. Mặt trong 2/3 dưới đùi trái có một số vết bầm tụ máu trên diện (18x9)cm. Mặt trước trong đầu gối trái có vết sây sát da kích thước (2,5x2)cm. Mặt trong1/3 dưới cẳng chân trái có một số vết bầm tụ máu trên diện (9x5)cm.

Khám trong:

Giải phẫu theo vết rách da vùng cung lông mày phải: Dập nát tổ chức dưới da vùng trán và vùng thái dương phải diện: (12x14)cm; vỡ lún dạng phức tạp xương hộp sọ vùng trán phải thành nhiều mảnh; dập nát tổ chức bên trong; vỡ xương trần ổ mắt phải và xương gò mái phải.

Không tiến hành giải phẫu các vùng khác do gia đình kiên quyết từ chối.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh, tại bản Kết luận giám định tử thi số: 2524/ KL-KTHS ngày 23/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965, nơi thường trú: khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh do chấn T sọ não, chấn T hàm mặt trên người đa chấn T”.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định mẫu máu của bà Nguyễn Thị L, tại Bản kết luận giám định số: 2838/KL-KTHS ngày 30/09/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “… Chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định là máu người, nhóm B, cùng nhóm với mẫu máu của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965, trú tại: khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh”.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định mẫu máu của bà Nguyễn Thị L có cồn và chất ma tuý không, tại Bản kết luận giám định số: 2634/KL-KTHS ngày 30/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Mẫu máu của bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965, trú tại: khu phố G, phường P, tỉnh Bắc Ninh không tìm thấy chất ma tuý; không tìm thấy thành phần Ethanol (cồn)”.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh về dấu vết của các phương tiện, tại Bản kết luận giám định số 2792/KL-KTHS ngày 09/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen tại mặt trước trên chắn bùn bánh trước trên xe mô tô biển số 26AA -562.58 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định) có chiều từ trước về sau chắn bùn, phù hợp với dấu vết trượt, mất sơn tại mặt ngoài phía trước bên phải khung xe đạp (ảnh 6 trong bản ánh giám định). Dấu vết va chạm trên xe đạp tại vị trí này có chiều từ phải sang trái. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiên.

- Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 26AA-562.58 và xe đạp”.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh về dữ liệu điện tử và tốc độ xe, tại Bản kết luận giám định số 2843/KL-KTHS ngày 13/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định. Không xác định được tốc độ của xe mô tô BKS 26AA

- 562.58 theo yêu cầu giám định”.

Tiến hành định giá tài sản bị hư hỏng là chiếc xe đạp của bà Nguyễn Thị L và chiếc xe mô tô BKS 26AA-562.58, tại Bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTSTTHS ngày 28/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - UBND huyện Tiên Du kết luận:

“Phụ tùng thay mới 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125, màu tím, BKS 26AA - 562.58, đã qua sử dụng gồm: Nắn khung+nắn càng, thay vành+nan hoa trước, đèn pha, cụm đồng hồ, nhựa gáy+bàn thờ, 2 yến trong+2 yếm ngoài, nhựa ốp ổ khóa, nhựa mặt nạ, ghi đông, củ xi nhan trước, ốp ống xả, bàn để chân, tay phanh, nhựa chắn bùn trước, giảm xóc vào thời điểm định giá tháng 9/2025 là: 16.403.333 đồng.

- Phụ tùng thay thế mới 01 xe đạp mini, màu sơn đen, đã qua sử dụng gồm: Giỏ xe, vành xe+nan hoa, lốp xe, càng trước, cổ lái, ghi đông, khung xe, bàn đạp, cần phanh, dây phanh, chắn bùn trước vào thời điểm định giá tháng 9/2025 là 3.486.333 đồng”.

Sau khi sự việc xảy ra, Công an tỉnh Bắc Ninh tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Quàng Văn N xác định: nồng độ cồn trong khí thở của N tại thời điểm kiểm tra: 0,000mg/l. Tại Bệnh án của Quàng Văn N tại Bệnh viện đa khoa Thiện Nhân, tỉnh Bắc Ninh thể hiện N âm tính với thành phần các chất ma túy.

Căn cứ vào lời khai của bị can và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:

Khoảng 05 giờ ngày 06/9/2025, Quàng Văn N, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, tự ý lấy chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vario 125, màu xám tím, BKS: 26AA – 562.58 của anh Lường Văn M sinh năm 2003, trú tại Bản N, xã C, tỉnh Sơn La (là người cùng khu trọ), một mình điều khiển xe đi từ phòng trọ tại khu phố Nghiêm Xá, phường Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh đến Cầu Ngà thuộc địa phận phường Nam Sơn, tỉnh Bắc Ninh để đón bạn. Đến khoảng 05 giờ 17 phút, khi N điều khiển xe mô tô vừa di chuyển ở phần đường bên phải đoạn đường khu vực ngã ba đường gom KCN Quế Võ 1 lối rẽ ra QL18 với tốc độ khoảng 60-70km/h thì bà Nguyễn Thị L điều khiển xe đạp đi chéo qua đường từ trái qua phải theo chiều đi của N, phía trước đầu xe của N về phía ngã ba rẽ ra QL18. Do N không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn nên đầu xe của N đã đâm vào phần đầu bên phải xe của bà L, làm bà L cùng xe đạp ngã văng xuống, N cùng xe mô tô cũng bị văng, trượt rê trên đường. Hậu quả bà L bị chết trên đường đi cấp cứu.

Cáo trạng số 55/CT- VKS- KV8 ngày 09/12/2025 của VKSND khu vực 8

- Bắc Ninh đã truy tố Quàng Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND khu vực 8- Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 179; Điều 124 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024, xử phạt Quàng Văn N từ 22 tháng tù đến 26 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã C, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Vật chứng vụ án: Không xem xét giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo theo quy định.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật, bị cáo có nhân thân tốt, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, vật chứng của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Hồi 05 giờ 17 phút ngày 06/9/2025, Quàng Văn N không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô HONDA Vario 125, màu xám tím, BKS: 26AA – 562.58 đi trên đường gom KCN Quế Võ 1 thuộc G, phường P, tỉnh Bắc Ninh theo hướng từ phường P đi phường Nam Sơn, khi đến đoạn ngã ba đường gom KCN Quế Võ 1 lối rẽ ra QL18, do N không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn khi đến đoạn đường giao nhau nên đã đâm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị L điều khiển đi ngược chiều đang sang đường ở phía trước. Hậu quả làm bà L chết. Cáo trạng số 55/CT- VKS – KV8 ngày 09/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh truy tố bị cáo Quàng Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 – Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của công dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông. Vì vậy, phải có mức hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tác động đến gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; ông nội bị cáo được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến và được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 – Bộ luật hình sự; Ngoài ra khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp pháp luật. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Giao cho UBND xã C, tỉnh Sơn La nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Sau khi vụ án được làm rõ, ngày 12/11/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại anh Lường Văn M 01 xe mô tô BKS 26AA 562.58; trả lại anh Nguyễn Thọ T 01 chiếc xe mini của bà Nguyễn Thị L. Anh M và anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

- Đối với 02 chiếc USB lưu giữ hình ảnh vụ tai nạn giao thông được lưu giữ trong hồ sơ vụ án cần được tiếp tục lưu giữ.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện VKS ở tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51– Bộ luật hình sự; Điều 12, khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

Xử phạt: Quàng Văn N 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Quàng Văn N.

Giao bị cáo Quàng Văn N cho UBND xã C, tỉnh Sơn La nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3. Vật chứng, đồ vật liên quan đến vụ án vụ án: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 – BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo Quàng Văn N.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 – BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Cỡ chữ