vanban.org

Bản án 106/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt đi thi hành án. Xử phạt bị cáo Trần Minh B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bắt, giữ người trái pháp luật - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – ĐN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HS-ST
Ngày 30-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – ĐN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Tin, nguyên là giáo viên

2. Ông Nguyễn Văn Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – ĐN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị T Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - ĐN tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Hoàng A; giới tính: nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 25/5/2006, tại: tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố ĐN); Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; nơi cư trú: khối phố Xuân Nam, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN; con ông Trần Xuân Tường (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tùng; gia đình bị cáo có 03 anh, em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt

2. Họ và tên: Trần Minh B, giới tính: nam; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 25/12/2008, tại: tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố ĐN); Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; nơi cư trú: thôn Đồng Phú, phường Hương Trà, thành phố ĐN; con ông Trần T và bà Ngô Thị Đoán; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không có;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

- Bị hại: Ngô Nguyễn Minh Th, sinh ngày 14/4/2009; địa chỉ: Khối phố Xuân Đông, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN. Có mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Ngô Minh Cảnh, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố 8, xã Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk và bà Nguyễn Thị Hương, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Hữu Lâm, xã C Phước, thành phố ĐN (là cha và mẹ đẻ của bị hại). Bà Hương có mặt, ông Cảnh vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh B: Ông Trần Quang - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 2 thành phố ĐN. Có mặt

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Minh B: Ông Trần T, sinh năm 1979 và bà Ngô Thị Đoán, sinh năm 1985; cùng địa chỉ: Thôn Đồng Phú, phường Hương Trà, thành phố ĐN (là cha và mẹ đẻ của bị cáo). Ông T có mặt, bà Đoán vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đồng Phú, phường Hương Trà, thành phố ĐN. Có mặt

- Người làm chứng:

+ Ông Võ Tấn P, sinh năm 2007; địa chỉ: Khối phố Mỹ Nam, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN. Vắng mặt

+ Võ Thị Mỹ T, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn An Thọ, xã Tây Hồ, thành phố ĐN; Vắng mặt

+ Nguyễn Thị Thủy C, sinh năm 2007; địa chỉ: Khối phố 8, phường Hương Trà, thành phố ĐN; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 20 phút ngày 20/5/2025, sau khi nhậu xong tại quán Over Night trên đường Nguyễn Tất Thành, thuộc khối phố Mỹ Đông, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN thì Trần Hoàng A, Trần Minh B, Nguyễn Thị Thủy C và Võ Thị Mỹ T ra lấy xe mô tô đang để bên hông quán để đi về. Tại đây, Trần Hoàng A nhờ Võ Tấn P - là nhân viên phục vụ quán nhậu Over Night gọi Ngô Nguyễn Minh Th ra để nói chuyện (do trước đây Th là nhân viên quán Festival và A nghe nói Th có nói hầm kho của quán Festival như cái hầm mồ nên A bực tức).

Khi Th ra gặp A thì A nói Th lên xe đi với A đến nơi khác nói chuyện thì Th không đồng ý và nói quán chưa dọn dẹp xong nên quay trở vào lại quán. Lúc này, A chạy theo dùng tay chụp tay của Th kéo giữ Th lại, thấy vậy Trần Minh B cũng chạy đến dùng tay kẹp cổ Th và nói với Th: "Mi đi không ta đánh mi chừ”. Sau đó, B cùng A kéo Th ra xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 92B1-553.12 đang để sẵn tại bên hông quán nhậu Over Night. Lúc này, A dùng tay nâng chân phải của Th qua yên xe mô tô mà B đang ngồi chờ sẵn. Sau khi ép Th lên xe, B điều khiển xe mô tô chở Th ngồi giữa, A ngồi phía sau giữ Th và rời khỏi khu vực quán nhậu Over Night theo hướng đường Nguyễn Tất Thành đến đường Phan Châu Trinh, sau đó chở Th đến chân cầu Bàn Thạch thuộc phường Quảng Phú, thành phố ĐN thì dừng lại. Tại đây, A hỏi Th: "Tại răng lại nói quán như rứa", rồi A và B xông vào, dùng tay đấm vào vai, đầu, mặt, cắm cùi chỏ tay vào lưng và dùng chân lên gối vào người Th gây thương tích. Khi A thấy Th ngồi sụp xuống đường thì A hỏi B: "Có chở hắn về không", B nói: "kệ hắn", rồi để Th ở lại và tự đi bộ về lại quán nhậu Over Night; còn A và B lên xe mô tô quay trở về lại quán Festival trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc khối phố Mỹ Đông, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN.

Khi Th về lại quán nhậu Over Night được một lúc thì có một nhóm T niên, trong đó có A và B đến quán nhậu Over Night tìm Th để nói chuyện. Trong quá trình nói chuyện, B dùng tay đẩy vai của Th một cái, sau đó cả nhóm rời đi. Sau khi bị A và B đánh, Th đến Bệnh viện Đa khoa Quảng Nam để nhập viện kiểm tra vết thương, đến chiều cùng ngày Th đến cơ quan Công an trình báo sự việc.

* Đồ vật, tài liệu tạm giữ:

- 01 (một) xe mô tô nhân hiệu Honda Air Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 92B1-553.12;

- 01 (một) đĩa CD-R chứa 02 đoạn video nội dung liên quan vụ vụ việc.

* Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 244/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Nguyễn Minh Th tại thời điểm giám định là 05% (áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần), với thương tích, vật gây và cơ chế hình thành từng vết thương trên người như sau:

- Tình trạng đau đầu vùng đỉnh trán trái hiện tại đã khỏi, kiểm tra không thấy dấu vết gì bên ngoài. Tay chân vận động gấp duỗi và đi lại được bình thường nên không đủ cơ sở để xác định vật gây và cơ chế;

- Mi dưới mắt trái còn đau thâm tím tụ máu lan tỏa dưới da, không thấy xuất huyết kết mạc mắt trái (vỡ sàn ở mắt trái) là do vật tày tác động trực tiếp gây nên, hướng từ trước ra sau;

- Vết trầy xước mép môi trên và mép môi dưới bên phải hiện tại đã lành tốt khó nhận biết, nên không đủ cơ sở để xác định vật gây và cơ chế;

- Tình trạng đau vai phải hiện tại đã khỏi, kiểm tra không thấy dấu vết gì bên ngoài, vận động khớp vai phải được bình thường, nên không đủ cơ sở để xác định vật gây và cơ chế;

Các tổn thương trên cơ thể Ngô Nguyễn Minh Th nếu không được cấp cứu kịp thời có thể không dẫn đến chết người.

Cáo trạng số 31/CT-VKSĐN-KV5 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-ĐN đã truy tố bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội“Bắt, giữ người trái pháp luật”, áp dụng: điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự (bị cáo Trần Minh B áp dụng thêm Điều 129 Luật Tư pháp người chưa thành niên), xử phạt bị cáo Trần Hoàng A với mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù và xử phạt bị cáo Trần Minh B với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh B trình bày luận cứ bào chữa: Thống nhất tội danh Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 119, Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 xét xử mức án thấp nhất và cho bị cáo hưởng án treo.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin lỗi bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Tam Kỳ, thành phố ĐN) và bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN truy tố về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 5 – ĐN theo quy định tại Điều 268 và Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng, nhưng người này đã có lời khai tại cơ quan điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố ĐN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – ĐN, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 04 giờ 20 phút ngày 20/5/2025, tại quán Over Night trên đường Nguyễn Tất Thành thuộc khối phố Mỹ Đông, phường Tam Kỳ, thành phố ĐN, Trần Hoàng A và Trần Minh B đã có hành vì ép buộc, bắt giữ Ngô Nguyễn Minh Th đưa lên xe mô tô chở đến chân cầu Bàn Thạch thuộc phường Quảng Phú, thành phố ĐN, rồi dùng tay, chân đánh gây thương tích cho Th với tỷ lệ thương tích 05%. Tại thời điểm xảy ra sự việc Th chỉ mới 16 tuổi 01 tháng 06 ngày.

Hành vi của Trần Hoàng A và Trần Minh B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-ĐN truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo:

Hành vi bắt giữ người trái pháp luật của các bị cáo là bộc phát và thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người, đồng thời gây mất an ninh trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

Về vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo Trần Hoàng A là người chủ mưu, khởi xướng, thực hành tích cực; bị cáo Trần Minh B là người có vai trò thứ yếu nên bị cáo A phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo B.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin bãi nại cho các bị cáo. Vì vậy, các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt: Các bị cáo phạm tội đối với người dưới 18 tuổi vào đêm khuya, nơi vắng người nên phải xử phạt hình phạt tù mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt.

Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Các bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Bị cáo Trần Minh B sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Ari Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 92B1 - 553.12 để thực hiện hành vi phạm tội nhưng chủ sở hữu là ông Trần T không biết nên trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 (một) đĩa CD-R chứa 02 đoạn video nội dung liên quan vụ việc nên lưu theo hồ sơ vụ án.

. Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình các bị cáo Trần Hoàng A, Trần Minh B đã bồi thường cho bị hại Ngô Nguyễn Minh Th số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại Th không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi của Trần Hoàng A và Trần Minh B dùng tay, chân đánh Ngô Nguyễn Minh Th gây thương tích 05%: quá trình điều tra, xác định chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà A và B sẵn sàng xâm phạm đến sức khỏe của Th, thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường tính mạng sức khỏe của người khác, thể hiện rõ tính côn đồ. Hành vi nêu trên của A và B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên quá trình làm việc, Th và đại diện gia đình Th có Đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố và đơn xin bãi nại đối với hành vi của A, B. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐN không khởi tố vụ án hình sự đối với A, B về tội “Cố ý gây thương tích" là phù hợp. Tuy nhiên, hành vi nêu trên của A và B đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐN chuyển hồ sơ có liên quan đến lãnh đạo Phòng PC01 Công an thành phố ĐN đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Hoàng A, Trần Minh B về hành vi nêu trên là phù hợp.

- Đối với việc Trần Hoàng A, Trần Minh B bắt giữ Ngô Nguyễn Minh Th từ quán Over Night đưa đến chân cầu Bàn Thạch để đánh: xét thấy quá trình xảy ra vụ việc, hành vi của các bị can không gây mất trật tự tại khu dân cư, không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân xung quanh. Do đó, hành vi của Trần Hoàng A và Trần Minh B không cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự và vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

- Đối với hành vi của Trần Minh B là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, vào tối ngày 19/5/2025 rạng sáng ngày 20/5/2025 có hành vi điều khiển xe mô tô Honda Air Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 9281-553.12 có dung tích xi lanh từ 125cm³ tham gia giao thông. Hành vi của Trần Minh B đã vi phạm hành chính về hành vi "Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm³ trở lên tham gia giao thông" quy định tại điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 28/12/2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐN chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố ĐN đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Minh B về hành vi nêu trên là phù hợp.

- Đối với hành vi của ông Trần T: vào tối 19/5/2025, ông T đã để cho B điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 125cm³ tham gia giao thông. Hành vi của ông Trần T là vi phạm hành chính về hành vì "để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông" theo quy định tại khoản 10 Điều 32 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 28/12/2024 của Chính phủ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐN chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố ĐN đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần T về hành vi nêu trên là phù hợp.

- Đối với hành vi Trần Minh B điều khiển xe mô tô chở Ngô Nguyễn Minh Th ngồi giữa, Trần Hoàng A ngồi sau: hành vi điều khiển xe mô tô chở quá số người theo quy định của B đã vi phạm hành chính quy định tại điểm g khoản 2 Điều 7 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP ngày 28/12/2024 của Chính phủ. Do đó, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố ĐN chuyển hồ sơ và tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố ĐN để xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Minh B về hành vi nêu trên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm e khoản 2 Điều 157; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); (riêng bị cáo Trần Minh B áp dụng thêm Điều 119 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024); Điều 107; Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt đi thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Minh B 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt đi thi hành án.

[2] Về vật chứng:

Trả lại cho chủ sở hữu Trần T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu trắng đen, biển kiểm soát 92B1 - 553.12 (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố ĐN với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – ĐN).

[3] Án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Trần Hoàng A và Trần Minh B, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[3] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố ĐN xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ