vanban.org

Bản án 106/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 12/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Nguyễn Văn T 01(một) năm 04(Bốn) tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Nguyễn Văn T 01(một) năm 04(Bốn) tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2025/HS-ST
Ngày: 12 - 6 -2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn

Bà Dương Thị Hoa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Ngô V Định - Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2025/HS-ST ngày 19/5/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HS ngày 28/5/2025 đối với bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; tên gọi khác: Không.

- Địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Nguyễn Văn Cát; Con bà: Hoàng Thị N; Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

- Bị hại: Anh Chu Đình V, sinh năm 2002 (đã chết)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phượng T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

-Đại diện hợp pháp của bị hại:

Chị Nguyễn Thị L, sinh 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phượng T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty CPTM và Đầu tư vận tải Thái Bình ; địa chỉ: Phòng 205,tầng 02, tòa nhà TTC, số 630, đường Lê , phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Lê M, sinh 1983 ; Địa chỉ: số 101 C34, tổ phường M, quận H, Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn V T có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Hải Phòng cấp ngày 19/4/2022. Ngày 25/9/2023, Nguyễn Văn T ký Hợp đồng lao động lái xe ô tô với Công ty cổ phần thương mại và đầu tư vận tải Thái Bình, có địa chỉ: phòng 205, tầng 02, Tòa nhà TTC, số 630, đường Lê Thánh Tông, phường Đông Hải 1, quận Hải An, thành phố Hải Phòng do anh Đinh V Tuấn làm Giám đốc. Sau đó, anh Tuấn giao chiếc xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-021.27 cho T quản lý, hàng ngày điều khiển xe ô tô để chở hàng và trả hàng theo các đơn hàng của Công ty.

Khoảng 01 giờ ngày 16/11/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R-162.20 từ thành phố Hải Phòng đến Công ty TNHH ICH CUBE Việt Nam (viết tắt là Công ty ICH CUBE) thuộc Khu công nghiệp Đình Trám, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang để trả hàng cho công ty. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi trả hàng xong, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 đi ra khỏi Công ty ICH CUBE để đi về thành phố Hải Phòng. Khi ra khỏi cổng công ty, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 đi trên đường tuyến số 4 theo hướng tuyến số 2 đi tuyến số 3 của Khu công nghiệp Đình Trám, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Khi đi đến khu vực giao nhau có biển cảnh báo đường một chiều của hai chiều đường tuyến số 4 Khu công nghiệp Đình Trám thuộc địa phận tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; T điều khiển xe ô tô đầu kéo đi sát lề đường bên phải theo chiều đi T, đồng thời bật tín hiệu xi nhan bên trái để chuyển hướng rẽ trái sang làn đường ngược chiều (quay đầu xe). Do thiếu chú ý quan sát và chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn nên T đã để mặt ngoài bình dầu và thanh phía dưới giá bảo vệ bình dầu bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 do mình điều khiển va chạm vào xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu sơn đen, biển số 98K1- 376.80 do anh Chu Đình V- sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố Đầu, phường Tự Lạn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển đi phía sau cùng chiều. Hậu quả làm anh V bị chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy xương đùi phải dẫn đến tử vong tại chỗ.

Sau khi tiếp nhận thông tin vụ tại nạn giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Việt Yên đã thành lập đoàn khám nghiệm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông và khám nghiệm tử thi theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng: Hiện trường xảy ra tai nạn là đường tuyến 4 trong Khu công nghiệp Đình Trám thuộc tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đường được trải nhựa thẳng phẳng rộng 17,35m, được chia thành hai chiều đường xe chạy bởi dải phân cách cứng ở giữa rộng 2,90m. Theo chiều từ tuyến 2 đi tuyến 3, chiều đường bên phải rộng 7,15m, được chia thành hai làn đường bởi một vạch sơn đứt quãng màu trắng ở giữa rộng 0,15m; một chiều rộng 3,40m, chiều còn lại rộng 3,60m. Theo chiều từ tuyến 2 đi tuyến 3, chiều đường bên trái rộng 7,30m, được chia thành hai làn đường xe chạy bởi một vạch sơn đứt quãng màu trắng rộng 0,15m; một chiều rộng 3,45m, chiều còn lại rộng 3,70m. Hai đầu đường có biển báo đường một chiều và hai bên đường là các công ty.

Phải, trái hiện trường theo chiều từ tuyến 2 đi tuyến 3, lấy mép đường nhựa bên phải nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn, lấy cột đèn cao áp số 10A giữa dải phân cách cứng ở giữa đường là mốc của hiện trường và mô tả xác định vị trí dấu vết nạn nhân, phương tiện, dấu vết, được đánh số thứ tự ký hiệu (1) là vết trượt xước kích thước (2,37x0,40)m; (2) là xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80; (3) là xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15R- 162.20; (4) là tử thi anh Chu Đình V.

- (1) Là vết trượt xước trên mặt đường nhựa kích thước (2,37x0,40)m; đầu tâm cách mép đường bên phải 5,82 m; cuối vết trượt xước là đầu để chân phía trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80, cách mép đường bên phải 7,20m; đầu vết trượt xước cách trục bánh sau bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 là 8,16m.

- (2) Là xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80, đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng dải phân cách cứng, đuôi xe hướng mép đường bên phải; trục bánh trước cách mép đường bên phải 7,70m, trục bánh sau cách mép đường bên phải 6,60m; trục bánh trước cách trục bánh trước bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 là 1,20m.

- (3) Là xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 đỗ trên mặt đường nhựa; đầu hướng lề đường bên phải, đuôi hướng tuyến 2; trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 7,80m, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 0,94m. Khoảng cách từ đỉnh đầu tử thi V đến trục bánh trước bên trái của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 là 2,20m.

- (4) Là tử thi anh Chu Đình V nằm ngửa trên mặt đường nhựa, đầu hướng tuyến 2, hai gót chân hướng tuyến 3; đỉnh đầu cách mép đường bên phải 7,40m; gót chân phải cách mép đường bên phải 7,40m; gót chân trái cách mép đường bên phải 6,90m. (Bút lục 82-96).

* Kết quả khám xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20:

- Giá bảo vệ bình dầu bên trái bị tỳ nén cong vênh, mài sát mòn kim loại; thanh phía trên để lại vết mài sát sạch bụi đất kích thước (0,90x0,10)m, tâm cách đất 0,81m hướng từ trái sang phải; thanh phía dưới để lại vết mài sát mòn kim loại bám dính tạp chất màu đen, kích thước (1,02x0,10)m, tâm cách đất 0,48m, hướng từ trái sang phải.

- Thanh giằng phía trước cố định bảo vệ bình dầu bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại sạch bụi đất, bám dính tạp chất màu đen kích thước (0,20x0,05)m, tâm cách đất 0,60m.

- Bình dầu bên trái bị tỳ nén bẹp lõm; mặt ngoài để lại vết mài sát mòn kim loại hướng từ trái sang phải, kích thước (0,90x0,50)m, tâm cách đất 0,60m.

- Mặt dưới bình dầu bên trái để lại vết tỳ nén, bẹp lõm kim loại kích thước (0,80x0,50)m, điểm thấp nhất cách đất 0,37m.

- Nắp bình dầu bên trái để lại vết mài sát kích thước (0,12x0,12)m, tâm cách đất 1,13m.

- Má lốp bánh trước số 01 bên trái có vết mài sát cao su sạch bụi đất in hình vân lốp.

* Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu sơn đen, biển kiểm soát 98K1- 376.80:

- Gương chiếu hậu bên trái bật rời khỏi xe.

- Ốp nhựa đầu xe bị tỳ nén nứt vỡ bật khớp nối.

- Cụm đồng hồ công tơ mét bị bật khớp nối.

- Đầu tay lái bên trái bị mài sát mòn kim loại kích thước (0,03x0,01)m, tâm cách đất 0,87m.

- Đầu tay lái bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01x0,01)m, tâm cách đất 1,00m.

- Đầu tay phanh bên phải để lại vết mài sát mòn kim loại, kích thước (0,01x0,01)m, tâm cách đất 0,94m.

- Cổ tay lái bị tỳ nén cong vênh kim loại.

- Cánh yếm bên phải trước bị mài sát mòn nhựa bám dính đất, kích thước (0,60x0,30)m, tâm cách đất 0,70m.

- Ốp nhựa sườn xe bên phải bị tỳ nén nứt vỡ, mài sát mòn nhựa kích thước (0,62x0,25)m, tâm cách đất 0,56m.

- Để chân trước bên phải bị gãy rời khỏi xe, phần còn lại bị mài sát mòn kim loại kích thước (0,26x0,04)m, tâm cách đất 0,41m.

- Cần chân phanh bị mài sát mòn kim loại kích thước (0,02x0,01)m, tâm cách đất 0,40m.

- Bô xe bị tỳ nén bẹp méo, mài sát mòn kim loại kích thước (0,5x0,10)m, tâm cách đất 0,42m.

- Chắn bùn bánh trước bị nứt vỡ.

- Càng xe phía trước bị tỳ nén cong vênh.

- Giảm sóc trước bên trái để lại vết mài sát mòn kim loại kích thước (0,08x0,05)m, tâm cách đất 0,55m.

- Cách yếm bên trái bị bật rời khỏi xe.

- Ốp nhựa sườn xe bên trái bị tỳ nén nứt vỡ, mài sát mòn nhựa bám dính máu kích thước (0,90x0,33)cm, tâm cách đất 0,60m.

- Để chân trước bên trái để lại vết mài sát rách cao su kích thước (0,04x0,03)m, tâm cách mặt đất 0,27m.

- Để chân sau bên trái để lại vết tỳ nén cong vênh kim loại.

- Mặt bên trái yên xe để lại vết mài sát mòn da kích thước (0,60x0,18)m, tâm cách đất 0,77m.

- Má lốp bên trái bánh trước để lại vết mài sát rách cao su bám dính chất màu đen hướng từ ngoài vào thân bánh trên diện kích thước (0,65x0,04)m. (Bút lục 99-100, 109-121)

Tại Kết luận giám định số 2679/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Dấu vết chùn cong, mài sát kim loại, bám dính chất màu đen tại mặt ngoài bình dầu và thanh phía dưới giá bảo vệ bình dầu của xe ô tô biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20, có hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước (ảnh số 5, 6, 7 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gẫy vờ, mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80 trong tư thế đổ nghiêng phải gồm: ốp nhựa đầu xe, gương chiếu hậu, đầu tay nắm, đầu tay phanh, để chân trước, yên xe, ốp sườn, có hướng từ trên xuống dưới (ảnh số 5, 6, 12, 14 bản ảnh khám phương tiện).

- Dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất, in hình vân lốp tại má ngoài lốp bánh số 1 bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R-162.20, có hướng từ ngoài vào tâm bánh (ảnh số 11, 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu đen tại bên phải má lốp bánh trước, giảm sóc trước bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80 trong tư thế đổ nghiêng phải, có hướng từ ngoài vào tâm bánh, từ trước ra sau (ảnh số 10, 21 bản ảnh khám phương tiện).

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 với xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80 trên mặt đường tại phía sau điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải của đường Tuyến 4 theo hướng đường Tuyến 2 đi đường Tuyến 3 (trong khu công nghiệp Đình Trám).

- Chiều hướng va chạm: tại thời điểm xảy ra tại nạn giữa xe ô tô biển kiểm soát 15H-021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 chuyển hướng sang trái, va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80 từ phía sau, bên trái chuyển động đến, trong tư thế đổ nghiêng phải (tính theo chiều chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 15H-021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20).

- Ngoài dấu vết va chạm giữa ô tô biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 với xe mô tô biển kiểm soát 98K1-376.80, không xác định được hai phương tiện có va chạm với phương tiện nào khác hay không, do các chi tiết nhựa, kim loại trên hai phương tiện sau khi tại nạn chùn cong, gãy vỡ.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học. (

* Kết quả khám nghiệm tử thi: Tử thi được xác định là anh Chu Đình V- sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố Đầu, phường Tự Lạn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; chiều dài tử thi 1,68m, thể trạng phát triển bình thường, đang trong giai đoạn mềm lạnh.

- Khám ngoài: Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:

+ Vùng đầu tóc để trung bình màu đen; đồng tử hai bên giãn, hai lỗ mũi và khoang miệng có máu không đông chảy ra.

+ Mũi, môi trên, môi dưới và vùng cằm có diện sây sát da, kích thước (12x5,5)cm.

+ Vùng ngực phải có diện sây sát da, kích thước (23x19,5)cm.

+ Sờ nắn thấy gẫy cung xương sườn số 1 , 2, 3, 5, 6 bên phải.

+ Mặt trước cánh tay và khuỷu tay phải có diện sây sát da, kích thước (06x05)cm.

+ Mu, bàn, ngón tay trái có diện sây sát, bầm tím da, kích thước (07x5,5)cm.

+ Mặt trước trong cẳng tay phải có diện sây sát da, kích thước (08x04)cm; Mu và gan các ngón 1, 2, 3 bàn tay trái bám dính chất màu đen.

+ Vùng bụng có diện chợt da, bám dính chất màu đen, kích thước (29x16)cm.

+ Sưng nề biến dạng đùi phải, đùi phải có nhiều vết sây sát da bầm tím da trên diện (34x22)cm.

+ Sờ nắn thấy gẫy 1/3 giữa xương đùi phải, mặt trước trong gối phải và 1/3 trên cẳng chân phải có diện dập, rách ra để lộ cơ, kích thước (09x04)cm.

+ Cẳng chân phải có nhiều vết sây sát bầm tím da diện (26x13)cm.

+ Mu và gan bàn ngón chân phải có vết sây sát rách da bám dính chất màu đen để lộ gân, xương, kích thước (21x12)cm.

+ Đùi trái có diện sây sát, bầm tím da, kích thước (22x17)cm.

+ Gối và 1/3 trên cẳng chân trái có diện sây sát da, kích thước (18x09)cm.

+ Mặt trước trong cẳng chân trái có vết rách da để lộ cơ, kích thước (16x03)cm.

+ Gót chân và gan bàn chân trái bám dính chất màu đen.

Tại Kết luận giám định tử thi số 2627/KLGĐTT-KTHS ngày 11/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: Nguyên nhân chết của Chu Đình V do đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy xương đùi phải.

Ngày 18/11/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện pháp y- Quân đội giám định ma túy và nồng độ cồn trong mẫu máu của anh Chu Đình V. Tại bản kết luận giám định số 2661/PY-XNĐH ngày 26/11/2024 của Viện pháp y- Quân đội kết luận: Tìm thấy Ethanol (cồn) trong mẫu máu của Chu Đình V, nồng độ 77,7mg/100ml máu. Không tìm thấy các chất ma túy trong máu của Chu Đình V.

Ngày 16/11/2024, Công an thị xã Việt Yên tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn V T. Kết quả T không có nồng độ cồn (0,000mg/L). Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Nguyễn V T. Kết quả T âm tính với các chất ma túy.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 195/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên kết luận: Giá trị phần hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 98K1-376.80 là 14.740.000 đồng; Giá trị phần hư hỏng của xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27 kéo theo sơ mi rơ mooc là 3.000.000 đồng. (Bút lục 48-59)

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98K1- 376.80 là tài sản của anh Chu Đình V nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp của anh V (chị L là mẹ đẻ của anh V). Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc 15R-162.20 là tài sản của Công ty cổ phần thương mại và đầu tư vận tải Thái Bình nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho Công ty cổ phần thương mại và đầu tư vận tải Thái Bình. Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC mang tên Nguyễn V T Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả xong cho gia đình anh V tổng số tiền 130.000.000 đồng. Đại điện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên không yêu cầu bồi thường dân sự; về thiệt hại 02 phương tiện các bên liên quan thống nhất tự sửa chữa, khắc phục thiệt hại; không ai yêu cầu về bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS ngày 17/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố Nguyễn V T phạm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn V T thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Sau khi phân tích tính chất vụ án, nguyên nhân xảy ra vụ việc có một phần lỗi của bị hại, các tình tiết T nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015; xử phạt bị cáo từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 08 tháng ; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo . Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, về án phí của vụ án.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đại diện bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt nhưng đều đã được triệu tập hợp lệ. Xét việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của BLTTHS tiếp tục xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai đại diện bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn V T đã thực hiện hành vi phạm tội như sau. Nguyễn V T có Giấy phép lái xe ô tô hạng FC theo quy định. Khoảng 09 giờ 35 phút ngày 16/11/2024, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 021.27, kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 15R- 162.20 đi trên đường tuyến số 4 Khu Công nghiệp Đình Trám theo hướng tuyến số 2 đi tuyến số 3. Khi đến khu vực giao nhau có biển cảnh báo đường một chiều của hai chiều đường tuyến số 4 trong Khu Công nghiệp Đình Trám thuộc địa phận tổ dân phố My Điền 1, phường Nếnh, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; T điều khiển xe ô tô đi sát lề đường bên phải theo chiều đi T, đồng thời bật tín hiệu xi nhan bên trái và điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái sang làn đường ngược chiều (quay đầu xe). Do thiếu chú ý quan sát và chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn (vi phạm quy định tại tại khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; khoản 2 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải) nên T đã để mặt ngoài bình dầu và thanh phía dưới giá bảo vệ bình dầu bên trái của xe ô tô đầu kéo do T điều khiển va chạm với xe mô tô, nhãn hiệu Honda Winner, biển kiểm soát 98K1- 376.80 do anh Chu Đình V- sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố Đầu, phường Tự Lạn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đang điều khiển đi phía sau cùng chiều. Hậu quả làm anh V bị chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy xương đùi phải dẫn đến tử vong tại chỗ. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tình tiết T nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết T nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được đại diện bị hại xin giảm trách nhiệm hình sự, nguyên nhân tại nạn có một phần lỗi của bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, tích cực bồi thường cho đại diện bị hại, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 BLHS để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Nguyễn V T và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ theo luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn V T.

-Về vật chứng: Trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng FC cho bị cáo Nguyễn V T.

- Về tránh nhiệm dân sự: Đại diện bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên tại phiên tòa không đặt ra xem xét.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí . Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt Nguyễn Văn T 01(một) năm 04(Bốn) tháng tù về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02(hai) năm 08 (Tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Vật chứng: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Nguyễn V T.

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí.

- Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện bị hại và người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án.

Cỡ chữ