- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hoài T được ly hôn anh Phan Thế H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2024/HNGĐ - ST Ngày 28/06/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Khởi.
2. Ông Lê Văn Thanh.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Lĩnh – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 11/2024/TLST – HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoài T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khối Đ, phường H, Tp V, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
1. Bị đơn: Anh Phan Thế H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn nộp ngày 22/01/2024 và tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Hoài T trình bày:
Chị và anh Phan Thế H đăng ký kết hôn ngày 31/10/2012 tại UBND xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, lừa dối. Trong quá trình chung sống, do tính tình không hợp nhau, vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn bất đồng quan điểm, lối sống, cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp, đồng cảm với nhau. Anh Phan Thế H thường xuyên ăn chơi không chăm lo cho cuộc sống vợ chồng, chị có góp ý thì anh không nghe, không thay đổi. Mặc dù đã được hàng xóm, gia đình hai bên gia đình khuyên giải nhưng tính cách anh H vẫn không thay đổi. Vợ chồng đã sống ly thân nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Phan Thế H.
Về con chung: Giữa chị và anh Phan Thế H có hai con chung là Phan Thế Hoàng P, sinh ngày 01/10/2013 và Phan Thế Thiện N, sinh ngày 14/09/2019. Nếu ly hôn, chị Nguyễn Hoài T có nguyện vọng được nuôi cháu Phan Thế Thiện N, giao cho anh H nuôi dưỡng cháu Phan Thế Hoàng P cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn anh Phan Thế H có Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, anh trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Thời điểm kết hôn và điều kiện kết hôn anh đồng ý với ý kiến của chị T. Anh và chị trong thời gian chung sống không có xích mích, bất đồng gì. Tuy nhiên, nếu chị Nguyễn Hoài T kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Phan Thế Hoàng P, sinh ngày 01/10/2013 và Phan Thế Thiện N, sinh ngày 14/09/2019. Nếu ly hôn, anh xin được nuôi cháu Phan Thế Hoàng P và Phan Thế Thiện N. Anh không yêu cầu chị Nguyễn Hoài T cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử; quá trình thu thập chứng cứ, hỏi và tranh luận tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 227; Khoản 1 điều 228 BLTTDS.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Hoài T. Cho chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H ly hôn.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao cháu Phan Thế Thiện N, sinh ngày 14/09/2019 cho chị Nguyễn Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Thế Hoàng P, sinh ngày 01/10/2013 cho anh Phan Thế H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không phải xem xét giải quyết thêm.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc chị Nguyễn Hoài T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H đăng ký kết hôn ngày 31/10/2012 tại UBND xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án này được xác định là “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phan Thế H hiện đang có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm T, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án anh Phan Thế H được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên vụ án không tiến hành hoà giải được theo điều 207 BLTTDS. Nguyên đơn Nguyễn Hoài T và bị đơn Anh Phan Thế H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H đăng ký kết hôn ngày 31/10/2012 tại UBND xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân của hai bên đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung không hạnh phúc, cuộc sống xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến anh chị đã sống ly thân khoảng 01 năm nay. Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Hoài T xin được ly hôn với anh Phan Thế H. Anh Phan Thế H có biên bản lấy lời khai trình bày ý kiến đồng ý lý hôn với chị Nguyễn Hoài T. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Phan Thế H vẫn vắng mặt tại các buổi hoà giải. Xét thấy cuộc sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đều có nguyện vọng ly hôn nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H ly hôn.
Về con chung: Căn cứ vào ý kiến của con và nguyện vọng của đương sự, xét về điều kiện nuôi dưỡng cần giao cho mỗi bên nuôi dưỡng một cháu là hợp lý. Giao cháu Phan Thế Thiện N, sinh ngày 14/09/2019 cho chị Nguyễn Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Thế Hoàng P, sinh ngày 01/10/2013 cho anh Phan Thế H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Hoài T và anh Phan Thế H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[ 3 ] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Nguyễn Hoài T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Hoài T được ly hôn anh Phan Thế H.
Về con chung: Buộc anh Phan Thế H giao cháu Phan Thế Thiện N, sinh ngày 14/09/2019 cho chị Nguyễn Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Buộc chị Nguyễn Hoài T giao cháu Phan Thế Hoàng P, sinh ngày 01/10/2013 cho anh Phan Thế H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành). Chị T và anh H có quyền thăm gặp con chung không ai được cản trở. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị Nguyễn Hoài T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ do đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0006093 ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Hoài T đã nộp đủ tiền án phí.
Quyền kháng cáo: Vụ án xét xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai đối với nguyên đơn, bị đơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quán Vi Tuấn |