- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Ngọc D và Nguyễn Thanh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-12-2024 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Kiệt.
Bà Sơn Thị Vành Đa.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2024/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc D;
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H;
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 8 năm 2024 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc D và anh Nguyễn Thanh H có tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 01 tháng 12 năm 2005, sau khi kết hôn thì anh chị sống tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Hôn nhân của chị D và anh H được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất vui vẻ và hạnh phúc. Nhưng đến năm 2023 trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn thì chị D và anh H cũng như gia đình hai bên có hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh chị nhưng không được. Chị D nhận thấy vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, khi sống ly thân chị D và anh H không thường xuyên liên lạc cũng như không gặp mặt nhau. Nay chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc cũng như mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị D yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Về con chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai trong thời gian chung sống, chị D và anh Hcó 01 (một) người con chung là Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008), hiện nay cháu H đang sống với chị Dtại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn chị Dyêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) cho đến khi cháu Hđủ 18 (mười tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Ngọc D không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) vì hiện nay chị Dcó khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Hưng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh H: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D tại Thông báo thụ lý vụ án số: 394/TB-TLVA, ngày 04 tháng 10 năm 2024 và đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Thanh H, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh Hđến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai lần nhưng anh Hđều không đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Hnhưng anh Hkhông gửi văn bản ghi ý kiến của anh Hđối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Trương Thị Ngọc D.
Tại biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên lập ngày 19 tháng 11 năm 2024, cháu Nguyễn Thanh Htrình bày: Hiện nay cháu đã nghỉ học, đang học nghề và cháu Hsống cùng với mẹ là chị Trương Thị Ngọc D tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, cuộc sống của cháu hiện nay ổn định. Nếu cha mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là chị Trương Thị Ngọc D.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt); Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D và bị đơn anh Nguyễn Thanh H, có nơi cư trú tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc D và bị đơn anh Nguyễn Thanh H xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Trương Thị Ngọc D và anh Nguyễn Thanh H tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 01 tháng 12 năm 2005 là hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân này.
Trong quá trình chung sống theo chị Dtrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời sống hôn nhân. Chị D và anh Hđã sống ly thân một thời gian, khi xảy ra mâu thuẫn chị Dđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị D và anh Hkhông còn chung sống với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị Dvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh Hthì hiện nay, chị D và anh Hsống ly thân từ năm 2023, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị D và anh Hđã đến mức trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Ngọc D.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trương Thị Ngọc D yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thanh H(nam, sinh ngày 27/01/2008) cho đến khi cháu Hđủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị D và anh Hsống ly thân cho đến nay thì cháu H đều do chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu H thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị Trương Thị Ngọc D.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của cháu Nguyễn Thanh H nên việc giao cháu Hcho chị Trương Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) cho chị Trương Thị Ngọc D tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Hđủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Nguyễn Thanh H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Nguyễn Thanh H là người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Dcho rằng hiện nay chị Dcó công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị Dđảm bảo nên chị Dcó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên chị Dtự nguyện không yêu cầu anh Hcấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Thanh H(nam, sinh ngày 27/01/2008).
Về tài sản chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Về nợ chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điể m a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Ngọc D được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) cho chị Trương Thị Ngọc D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008) và tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Thanh H cấp dưỡng nuôi cháu Hnên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
2.3 Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thanh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung tên Nguyễn Thanh H (nam, sinh ngày 27/01/2008), chị Trương Thị Ngọc D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Nguyễn Thanh H không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Trương Thị Ngọc D tự khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006485 ngày 02 tháng 10 năm 2024, chị Trương Thị Ngọc D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA); - UBND xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hồng |