vanban.org

Bản án 106/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trang Văn T. Cho anh Trang Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mít.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trang Thị Ngọc Nh, sinh ngày 17-6-2015 và cháu Trang Thị Ngọc Y, sinh ngày 08-8-2017 cho chị Nguyễn Thị Mtrực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh Trang Văn T đối với cháu Trang Thị Ngọc Nh và cháu Trang Thị Ngọc Y, hàn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trang Văn T khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trang Văn T. Cho anh Trang Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mít.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Danh Đẹp

2. Ông Nguyễn Văn Kiện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Như Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trang Văn T, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trang Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2014, anh Trang Văn T và chị Nguyễn Thị Mquen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới nhưng đến năm 2017 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24-10-2017.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, do chị Mthường xuyên dẫn theo con bỏ nhà đi một vài tháng rồi lại về, anh Tđã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay. Hiện nay anh Tkhông còn tình cảm với chị Mnữa. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Tyêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

Về con chung: Anh Trang Văn T và chị Nguyễn Thị Mcó 02 con chung tên Trang Thị Ngọc Nh, sinh ngày 17-6-2015 và Trang Thị Ngọc Y, sinh ngày 08-8-2017, hiện nay đang sống chung với chị Mít. Anh Tđồng ý giao 02 con chung cho chị Mtrực tiếp nuôi dưỡng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi con 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Trang Văn T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị M: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa chị Mvắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mchưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Trang Văn T, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Mvẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trang Văn T và chị Nguyễn Thị Mchung sống với nhau vào năm 2014 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được UBND xã L, huyện C, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24-10-2017, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Trang Văn T: Vợ chồng anh Trang Văn T và chị Nguyễn Thị Mkhông còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của anh Ttại Toà án: Anh Tvà chị Mcó nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên thường xuyên cãi nhau. Mặt khác, do chị Mthường xuyên dẫn theo con bỏ nhà đi một vài tháng rồi lại về. Anh Txác nhận hiện nay anh không còn tình cảm với chị Mnữa, anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Tvà chị Mđã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của anh Txin ly hôn với chị Mlà có căn cứ để chấp nhận.

Về nuôi con chung: Anh Trang Văn T và chị Nguyễn Thị Mcó 02 con chung tên Trang Thị Ngọc Nh, sinh ngày 17-6-2015 và Trang Thị Ngọc Y, sinh ngày 08-8-2017, hiện nay đang sống chung với chị M. Anh Tđồng ý giao 02 con chung cho chị Mtrực tiếp nuôi dưỡng.

Xét thấy, từ thời gian anh Tvà chị Msống ly thân cho đến nay, các cháu vẫn do một mình chị Mchăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nh và cháu Y cho chị Mtiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không gửi văn bản ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không tiến hành hòa giải việc cấp dưỡng nuôi con giữa anh Tvà chị Mđược. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Ttự nguyện cấp dưỡng cho 02 con chung hàng tháng mỗi con 1.000.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị Mđúng theo quy định pháp luật nhưng chị Mvẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa anh Tvà chị Mđược. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà anh Txác nhận trong thời gian chung sống cùng chị M, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Về án phí: Anh Trang Văn T là nguyên đơn trong vụ án, do đó anh phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa anh Ttự nguyện cấp dưỡng nuôi con nên anh Tphải chịu án phí cấp dưỡng với số tiền là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trang Văn T. Cho anh Trang Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Mít.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trang Thị Ngọc Nh, sinh ngày 17-6-2015 và cháu Trang Thị Ngọc Y, sinh ngày 08-8-2017 cho chị Nguyễn Thị Mtrực tiếp nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của anh Trang Văn T đối với cháu Trang Thị Ngọc Nh và cháu Trang Thị Ngọc Y, hàng tháng mỗi cháu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm (30-9-2024) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Hai bên giao nhận tiền cấp dưỡng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang hoặc trực tiếp giao nhận.

Kể từ ngày chị Mcó đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Tkhông thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng như trên thì anh Tcòn phải trả cho chị Mkhoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Anh Trang Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Anh Trang Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Ngoài ra, anh Tcòn phải nộp 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng. Tổng cộng tiền án phí anh Tphải nộp là 600.000 đồng nhưng anh Tđược khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005575 ngày 17-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, anh Tcòn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014”.

6. Quyền kháng cáo: Anh Trang Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Mvắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ