- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình sự: căn cứ vào điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51 (đối với T); các khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2…
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 106/2023/HS-ST Ngày: 23 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Trần Văn Cảnh;
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Th Hà và ông uách Xuân Luy n.
Thư ký phiên toà: ông Đặng Trần Kim Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023, theo uyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 102/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với các b cáo:
1. Nguyễn Quốc T - sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn H M Y, xã L P, huy n T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghi p: lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Nguyễn Đình T và bà Nguyễn Th B; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 12/01/2021, TAND thành phố Phủ Lý xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong bản án ngày 18/01/2023, tiền sự: không. B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 23/6/2023 đến ngày 02/7/2023 chuyển tạm giam, hi n đang b tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
2. Trần Hữu Đ - sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn N C, xã L C, huy n T L, tỉnh Hà Nam; nghề nghi p: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Th H; vợ: Trần Th , con: có 01 con sinh năm 2018; tiền án: ngày 28/8/2020, TAND huy n Thanh Liêm xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong bản án ngày 24/5/2022; tiền sự: không; đặc điểm nhân thân: ngày 18/01/2016, TAND thành phố Phủ Lý xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/01/2018, Công an huy n Thanh Liêm ra uyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính, phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác”. Ngày 23/10/2018, Công an huy n Thanh Liêm ra uyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính, phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”. B cáo b bắt, tạm giữ từ ngày 22/6/2023 đến ngày 01/7/2023 chuyển tạm giam, hi n đang b tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: ông Trần Văn T - sinh năm 1975; nơi cư trú thôn N C, xã L C, huy n T L, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người chứng kiến: ông Nguyễn Thanh H - sinh năm 1954; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 22/6/2023, trong lúc Trần Hữu Đ và Nguyễn Quốc T ngồi uống nước ở quán gần nhà T thì có người nam giới tên là H ở thôn 2 T, xã T H, huy n T L sử dụng mạng xã hội Zalo nick “H con” gọi đến số Zalo của Đ hỏi: “Anh để cho em 50 con ngựa”, hiểu ý người này muốn mua 50 viên ma tuý dạng ngựa nên Đ quay sang hỏi T: “Có thằng em nó muốn lấy 50 viên ngựa anh có không để lại cho em”, T trả lời: “Có, giá ba triệu, thế bao giờ lấy”, Đ nói với T: “Có gì thì em đến”, rồi Đ nói qua đi n thoại báo H “50 viên ngựa là ba triệu còn tiền công ba trăm” thì H đồng ý, Đ hẹn với H khi nào lấy ma tuý thì gọi trước cho Đ rồi tắt đi n thoại. Sau đó Đ đi về nhà, còn T đi bộ ra Quốc lộ 21A đi xe ô tô khách xuống khu vực gần ga tàu thuộc đ a bàn thành phố Nam Đ nh, tỉnh Nam Đ nh thì xuống xe, đi bộ một đoạn và gặp một người đàn ông không quen biết, đang ngồi trên xe mô tô dựng ở lề đường, T đi đến hỏi “Anh có ngựa không” thì người đó nói: “Có, lấy bao nhiêu”. Sau khi trao đổi T đưa cho người đàn ông này 2.500.000 đồng, người đó cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi, khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho T 01 túi nilon màu trắng hàn kín, bên trong có 50 viên nén hình tròn màu đỏ, biết là ma tuý cần mua nên T bỏ vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi xe ô tô xe khách quay về nhà, cất giấu túi ma tuý vừa mua được ở nóc tủ trong phòng ngủ của T.
Khoảng 18 giờ ngày 22/6/2023, nam thanh niên tên H tiếp tục gọi đi n qua zalo cho Đ hẹn lấy ma tuý thì Đ đồng ý rồi sử dụng đi n thoại số thuê bao 0853.002.3.. gọi đến số thuê bao 0889.260.2.. của T bảo “Anh để cho em 50 con ngựa tý em qua lấy” và thống nhất với T về vi c Đ sẽ chuyển khoản trước cho T số tiền 700.000 đồng, số tiền còn lại Đ sẽ chuyển trả sau cho T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ dùng đi n thoại di động sử dụng ứng dụng của ngân hàng Á Châu (ACB) chuyển số tiền 700.000 đồng đến số tài khoản 482100038847.. của T mở tại ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Vi t Nam chi nhánh Hà Nam (BIDV) rồi điều khiển xe mô tô BKS 18Z4-35.. đi đến khu vực cổng nhà T, đứng ngoài gọi thì T cầm túi nilon màu trắng hàn kín bên trong có 50 viên ma túy dạng ngựa cất giấu trước đó mang ra đưa cho Đ rồi quay vào nhà, Đ cầm túi nilon đựng ma tuý ở tay trái rồi gọi đi n thoại qua mạng xã hội zalo cho H hẹn gặp, giao d ch bán ma tuý ở khu vực cầu Chằm, xã Liêm Thuận, huy n Thanh Liêm rồi Đ điều khiển xe mô tô BKS 18Z4-35.. đi đến khu vực cầu Chằm như đã hẹn. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường liên thôn thuộc đ a phận thôn Ngũ Cõi, xã Liêm Cần, huy n Thanh Liêm thì Đ gặp H điều khiển xe mô tô đi đến, cả hai dừng xe, dựng ở ven đường chuẩn b giao d ch bán ma tuý, H đưa cho Đ số tiền 3.300.000 đồng, Đ chưa k p đưa ma tuý cho H thì b lực lượng Công an huy n Thanh Liêm làm nhi m vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực này phát hi n nghi vấn yêu cầu kiểm tra thì người nam thanh niên tên H điều khiển xe mô tô bỏ chạy còn Đ b kiểm tra, phát hi n, bắt quả tang.
* Tài sản, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: thu giữ ở tay trái Trần Hữu Đ 01 túi nilon màu trắng hàn kín bên trong chứa 50 viên nén hình tròn màu đỏ (nghi là ma túy tổng hợp dạng ngựa), niêm phong ký hi u T01 và số tiền 3.300.000 đồng; thu trong túi quần phía trước Trần Hữu Đ đang mặc 01 đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart, niêm phong ký hi u QT02; 01 xe mô tô BKS 18Z4-35...
Căn cứ vào tài li u điều tra ngày 23/6/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm đã ra L nh giữ người trong trường hợp khẩn cấp; uyết đ nh tạm giữ; L nh bắt người b giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn uốc T, thu giữ của Tiến 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi 12C. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hữu Đ tại thôn N C, xã L C, huy n T L và chỗ ở của Nguyễn uốc T tại thôn H M Y, xã L P, huy n T L nhưng không thu giữ đồ vật, tài li u có liên quan.
Cùng ngày 23/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm ra quyết đ nh trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám đ nh đối với mẫu vật chứng thu giữ niêm phong trong phong bì ký hi u QT01 để xác đ nh loại, khối lượng chất ma túy. Tại bản Kết luận giám đ nh số 385/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 5,038g (Năm phẩy không trăm ba mươi tám gam) loại: Methamphetamine”.
Trong quá trình điều tra vụ án, ngày 12/9/2023, bố đẻ b cáo Nguyễn Quốc T là ông Nguyễn Đình T đã tự nguy n nộp số tiền 700.000 đồng là tiền Nguyễn uốc T có được do bán trái phép chất ma tuý cho Trần Hữu Đ.
Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKS-MT ngày 30 tháng 10 năm 2023, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Thanh Liêm đã truy tố Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy đ nh tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Thanh Liêm thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các b cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự cũng như nhân thân của các b cáo. Đề ngh Hội đồng xét xử: tuyên bố các b cáo Nguyễn uốc T, Trần Hữu Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51 (đối với T) các khoản 2, 3 Điều 35, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự - xử phạt b cáo Nguyễn uốc T từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt b cáo Trần Hữu Đ từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù. Hình phạt bổ sung: phạt mỗi b cáo từ 5 tri u đến 6 tri u đồng nộp ngân sách Nhà nước. Xử lý vật chứng: t ch thu, tiêu hủy số ma túy cùng bao gói hoàn trả sau giám đ nh; t ch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart của Trần Hữu Đ và 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi 12C của Nguyễn uốc T và số tiền 4.000.000 đồng; trả lại cho ông Trần Văn T 01 xe mô tô BKS 18Z4-35...
- Các b cáo Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về tố tụng: các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Về tội danh: tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như trong nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của các b cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của các b cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám đ nh và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 20 giờ ngày 22/6/2023, tại khu vực cổng nhà Nguyễn uốc T ở thôn H M Y, xã L P, huy n T L, T bán trái phép 01 túi nilon màu trắng hàn kín bên trong có 50 viên ma tuý nén hình tròn màu đỏ, tổng khối lượng 5,038 gam loại Methamphetamine cho Trần Hữu Đ với giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Hữu Đ điều khiển xe mô tô BKS 18Z4-35.. cầm theo toàn bộ số ma tuý nêu trên đi đến đoạn đường liên thôn thuộc đ a phận thôn Ngũ Cõi, xã Liêm Cần, huy n Thanh Liêm để gặp và bán cho một nam thanh niên chưa xác đ nh được nhân thân, lý l ch với giá 3.300.000 đồng nhưng chưa k p đưa ma tuý cho người đó thì b lực lượng Công an huy n Thanh Liêm tuần tra, phát hi n bắt quả tang. Hàng vi nêu trên của các b cáo Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. uan điểm truy tố của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Thanh Liêm đối với các b cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong vụ án này Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ có vai trò độc lập, ngang nhau khi thực hi n hành vi phạm tội.
Hành vi phạm tội của Nguyễn uốc T và Trần Hữu Đ là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại đ a phương. Hành vi này nếu không ngăn chặn k p thời sẽ kéo theo nhiều h lụy xấu cho xã hội do đó Hội đồng xét xử thấy cần ra bản án nghiêm khắc tương xứng hành vi phạm tội của các b cáo.
Về nhân thân các b cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự:
- Về nhân thân: các b cáo đều có nhân thân xấu, đặc bi t b cáo Đ đã nhiều lần b xét xử và b xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xét xử sẽ xem xét đến yếu tố này khi lượng hình.
- Về tình tiết tăng nặng: Cả hai b cáo đều đã b kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tính đến ngày 22/6/2023 chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hi n hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do vậy cả hai đều phải ch u tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các b cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. B cáo Nguyễn uốc T, có ông nội và bố đẻ được tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến nên Hội đồng xét xử xem xét cho b cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các b cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các b cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các b cáo trở thành công dân lương thi n và phòng ngừa chung trong cộng đồng.
- Về hình phạt bổ sung: xét thấy các b cáo thực hi n hành vi phạm tội đều có mục đích trục lợi. Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nhất là đối với loại tội phạm này, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các b cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy cùng bao gói hoàn trả sau giám đ nh là chất cấm tàng trữ, lưu hành nên t ch thu, tiêu huỷ.
- Đối với 01 đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart của Trần Hữu Đ và 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi 12C của Nguyễn uốc T, các b cáo đã sử dụng để trao đổi, liên lạc bán ma túy; số tiền 3.300.000 đồng thu giữ của Đ và 700.000 đồng do bố của b cáo T tự nguy n nộp là tiền Đ và T có được từ vi c bán trái phép chất ma túy cần t ch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với xe mô tô BKS 18Z4-35.., tài li u điều tra xác đ nh là tài sản hợp pháp của bố đẻ Đ là ông Trần Văn T, ngày 22/6/2023 ông T không biết Đ sử dụng xe mô tô để đi bán trái phép chất ma tuý; nên cần trả lại cho ông T chiếc xe này.
Về các vấn đề khác:
- Đối với người nam giới tên H đã liên lạc mua ma túy của Trần Hữu Đ, cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm đã tiến hành xác minh tại Công an xã Thanh Hương, kết quả không xác đ nh được người có đặc điểm như Đ đã khai báo; tiến hành kiểm tra dữ li u đi n thoại đã thu giữ của Đ không có các dữ li u liên quan đến giao d ch này. Ngoài lời khai của Đ thì không có tài li u chứng cứ nào khác, Cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau khi có căn cứ.
- Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ cũng như người đã bán ma túy cho Nguyễn uốc T, tài li u điều tra không đủ căn cứ xác đ nh làm rõ, để xử lý theo quy đ nh của pháp luật.
Về án phí: các b cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự: căn cứ vào điểm i khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 51 (đối với T); các khoản 2, 3 Điều 35; Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ uốc hội,
Tuyên bố: các b cáo Nguyễn uốc T, Trần Hữu Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt b cáo Nguyễn uốc T 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b tạm giữ (23/6/2023).
- Xử phạt b cáo Trần Hữu Đ 08 (tám) 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b tạm giữ (22/6/2023).
Hình phạt bổ sung: phạt Nguyễn uốc T, Trần Hữu Đ mỗi b cáo 5 tri u đồng nộp ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng: t ch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma tuý hoàn trả sau giám đ nh trong phong bì niêm phong số 385/KTHS; t ch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 4.000.000 đồng; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Vsmart; 01 đi n thoại di động nhãn hi u Redmi 12C; trả lại cho ông Trần Văn T 01 (một) xe mô tô BKS 18Z4-35.. (chi tiết vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huy n Thanh Liêm với Chi cục Thi hành án Dân sự huy n Thanh Liêm; số tiền theo ủy nhi m chi số 57 lập ngày 01/11/2023 tại Kho bạc Nhà nước huy n Thanh Liêm).
3. Án phí: các b cáo Nguyễn uốc T; Trần Hữu Đ mỗi b cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. uyền kháng cáo đối với bản án: các b cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. uyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hi u yêu cầu thi hành án: trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huy n Thanh Liêm; - Cơ quan CSĐT - Công an huy n Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huy n Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Cổng thông tin đi n tử của Tòa án; - Các b cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Cảnh |