vanban.org

Bản án 106/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "KL vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 106/2023/HS-ST
Ngày: 08-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lục Kim Thanh;

2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thiện Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

KL, sinh năm 1991; tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã VT, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu phố 3A, phường TH, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; con của ông Kim D, sinh năm 1966 và bà Thạch Thị SV, sinh năm 1970; bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2004; có vợ: Sơn Thị SNL, sinh năm 1995 (chết ngày 25/12/2015); bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 04/8/2022, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến nay. Có mặt

- Bị hại: Sơn Thị SNL, sinh năm 1995 (chết ngày 25/12/2015).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Sơn Sà Q, sinh năm 1958 – là cha bị hại;

2. Bà Thạch Thị K, sinh năm 1967 – là mẹ bị hại

Hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã VT, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Sơn Thị SV1, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã VT, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng.

Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Thành Đ, sinh năm 1975; hộ khẩu thường trú: Xã CH, huyện CX, tỉnh Hà Tinh). Có đơn xin xét xử vắng mặt

2. Công ty Cổ phần giao nhận và Vận chuyển InT; địa chỉ: Số 52 TS, Phường 2, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Duy P, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Thôn 13, xã ĐTH, huyện DL, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt

3. Bà Thạch Thị SV, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú: Ấp NT, xã VT, thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

KL có Giấy phép lái xe hạng A1 số 790158273446 do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/12/2015. Vào khoảng 14 giờ ngày 20/3/2022, KL uống bia với 01 người cháu họ của mình tại phòng trọ của KL thuộc khu phố 3A, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Sau khi cả hai uống hết 10 lon bia thì KL đi ngủ. Chiều tối cùng ngày, KL thức dậy thì nghe tin bạn của mình (không rõ lai lịch) bị tai nạn giao thông ở khu vực thành phố mới, tỉnh Bình Dương nên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 83V1-011.98 chở vợ là Sơn Thị SNL và con ruột là Kim Thị Ngọc A (sinh năm 2019) ngồi phía sau đi thăm bạn. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường DT741 thuộc khu phố Phú Nghị, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, KL đang điều khiển xe chạy trên làn đường xe ô tô tải theo hướng từ ngã tư Hòa Lợi đến ngã ba Phú Hòa thì nghe có tiếng còi xe ở phía sau, KL giật mình nên điều khiển xe mô tô loạng choạng, đánh lái sang trái, làm tay trái của KL va chạm vào thùng dầu bên hông phải xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92 do Trần Thành Đ điều khiển, đang lưu thông song song cùng chiều đến gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm KL, SNL và Ngọc A cùng xe mô tô biển số 83V1-011.98 té ngã xuống đường, KL và Ngọc A bị thương tích nhẹ, riêng Sơn Thị SNL bị thương tích nặng, được KL đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì tử vong.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 83V1-011.98; 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92.

Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường:

- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường đôi, thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, khô, cứng, tầm nhìn lái xe không bị che khuất. Đoạn đường có dãy phân cách di động là các cục bê tông phân chia phần đường DT741 thành hai chiều hướng xe chạy riêng biệt, mỗi chiều rộng 9,5m, có 03 làn đường (làn đường mô tô rộng 2,1m, ô tô tải rộng 3,7m, ô tô con rộng 3,7m).

- Lấy mép phải phần đường DT741 theo chiều hướng xe lưu thông, hướng từ chợ Nhật Huy đến ngã ba Phú Hòa làm mép đường chuẩn để đo đạc.

- Vết cày xe mô tô biển số 83V1-011.98 để lại trên mặt đường sau va chạm có kích thước là 9,2mx0,05m, vết cày đứt quãng không liên tục theo hướng từ chợ Nhật Huy đến ngã ba Phú Hòa và chếch vào mép đường chuẩn. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2,2m, điểm cuối vết cày kết thúc tại bên trái xe mô tô biển số 83V1-011.98.

- Xe mô tô biển số 83V1-011.98 sau va chạm ngã nghiêng sang bên trái. Trục bánh trước nằm trong mép đường chuẩn cách mép đường chuẩn là 0,3m, trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,7m.

- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-20992 sau va chạm đỗ tại hiện trường, đầu xe hướng về ngã ba Phú Hòa, đuôi xe hướng về chợ Nhật Huy. Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 0,8m trước trái là 1,6m. Trục bánh sau thứ ba bên phải cách mép đường chuẩn là 0,9m, phía sau thứ ba bên trái là 1,5m, cách trục bánh trước xe mô tô biển số 83V1-011.98 là 184m.

Theo Biên bản khám nghiệm phương tiện:

- Dấu vết để lại trên xe mô tô biển số 83V1-011.98 như sau: Vết trượt xước mặt sau đầu tay cầm trái kích thước 0,015mx0,01m, cách mặt đường là 1m, cách trái bánh trước là 0,88m. Vết trượt xước mủ móp hông phía sau bên trái hướng từ sau ra trước, kích thước 0,08m x0,05m, tâm vết cách mặt đường là 0,57m, cách trục bánh sau là 0,46m. Sây sát gương chiếu hậu bên trái kích thước là 0,03mx0,02m, tâm vết cách mặt đường là 1,07m, cách trục trái bánh trước là 1,08m. Mài mòn đầu tay cầm bên trái, cánh bửng bên trái, ba ga sau trái, đầu thắng tay trái.

- Dấu vết để lại trên xe ô tô đầu kéo biển số 51C-209.92 như sau: Vết trượt xước mặt ngoài ốp chắn bánh xe trước bên phải kích thước là 0,38m x 0,12m, cách trục bánh trước bên phải là 0,67m x 0,84m, cách mặt đường là 1,04m x 1,16m. Vết trượt xước ốc bu lông bánh trước bên phải, kích thước là 0,01m x 0,01m, cách trục là 0,18m, cách số 1 là 0,3m, còn dính vết màu xanh. Vết trượt xước mất bụi mép ngoài vè chắn bùn sau bánh trước bên phải có kích thước là 0,37m x 0,04m, cách mặt đường là 0,68m x 0,99m, cách trục bánh trước bên phải là 0,74m x 0,76m.

Theo Kết luận giám định số 183 ngày 31/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là:

- Dấu vết trượt xước, bám dính chất màu xanh đen dạng sơn ở đầu ốc cố định vành bánh trước bên phải xe ô tô đầu kéo biển số 51C-209.92, có chiều ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu đen xanh, hằn nhựa ở mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe mô tô biển số 83V1-011.98, có chiều hướng từ sau về trước.

- Dấu vết trượt xước sơn màu đen ở mặt ngoài dưới cửa lên xuống bên phải cabin xe ô tô đầu kéo biển số 51C-209.92, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở cạnh sau đầu tay cầm, tay côn trái xe mô tô biển số 83V1-011.98, có chiều từ sau về trước.

2. Cơ chế hình thành dấu vết giữa hai phương tiện là: Phần bên phải đầu xe ô tô đầu kéo va chạm vào phần bên trái xe mô tô theo hướng từ sau về trước (như mục 1, phần V) làm xe mô tô đổ ngã qua trái trượt trên mặt đường, tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là: Khu vực phía trước đầu vết cày xe mô tô trên sơ đồ hiện trường.

Theo Kết luận giám định số 244 ngày 22/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Sơn Thị SNL là do đa chấn thương.

Theo kết quả kiểm tra nồng độ cồn lấy mẫu vào lúc 23 giờ 11 phút ngày 20/3/2022 đối với KL là 0.223mg/l.

Tại Cơ quan điều tra, KL đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 83V1-011.98, xe do bà Thạch Thị SV là mẹ ruột của KL đứng tên sở hữu. Bà SV cho KL mượn để đi làm. Ngày 23/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 83V1-011.98 cho bà Vươl. Bà Vươl không có yêu cầu gì thêm.

Đối với xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92, xe do công ty Cổ phần giao nhận và Vận chuyển InT đứng tên chủ sở hữu. Ngày 18/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92 cho ông Trần Duy P là người đại diện theo ủy quyền của Công ty InT. Ông P không có yêu cầu gì.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo KL bồi thường cho đại diện của bị hại Sơn Thị SNL là bà Thạch Thị K số tiền 10.000.000 đồng và có đơn xin giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo KL.

Tại bản Cáo trạng số 100/CT-VKS-BC ngày 18/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo KL về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo KL mức án 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả và truy tố, không tham gia tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất ân hận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở lại với gia đình làm kiếm tiền nuôi con, hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của cơ quan Công an thị xã Bến Cát, của Kiểm sát viên và của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/3/2022, tại đoạn đường DT741 thuộc khu vực khu phố Phú Nghị, phường Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, KL đã có hành vi điều khiển xe mô tô, biển số 83V1-011.98 trong tình trạng trong hơi thở có nồng độ cồn (0.223mg/l) chở phía sau vợ là Sơn Thị SNL và con là Kim Thị Ngọc A, chạy không đúng làn đường (trên làn đường xe ô tô tải), va chạm vào bên hông phải xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92 do Trần Thành Đ điều khiển, đang lưu thông song song cùng chiều, gây tai nạn giao thông. Tai nạn xảy ra làm Sơn Thị SNL tử vong.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan, người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, sơ đồ hiện trường tai nạn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi điều khiển xe mô tô trong tình trạng trong hơi thở có nồng độ cồn của bị cáo đã vi phạm Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và gây hậu quả thiệt hại về tính mạng cho bị hại. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về ính c ất, mứ độ ghi m trọn của h nh v phạm tộ , các tình iết ăng n ng tr ch n iệm h nh sự, tình t ết gi m nh trác nhiệ hình sự:

Xét hành vi của bị cáo là guy iểm ho ã h i, kh ng ch xâ ph m và nh ng qu đị h củ Nh nư c về an to n gi o th ng đư ng bộ mà cò gâ th ệt hạ tí h mạ g, tà sả củ ng ời kh c. Về nh n th c bị cá bi t rõ vi c đi u kh ể n ph ơng ti n gi o th ng đư ng bộ kh th m gi gi o th ng ph i tu n th qu đị h về an to n gi o th ng đư ng bộ nh ng bị cá vẫ th c hi n hà h vi ph m tộ dư i hì h th c lỗ vô ý à đã gâ ra hậ qu ng y hi m ch xã hộ .

Về ình t ết đị h khu g hìn phạt Bị cá đ ều hiển xe mô ô hi t ong hơi t ở c nồ g ộ cồ v lư t ông trên àn đ ờng ô tô â t i n n l vi ph m ho ản 8 Điề và h ản 1 Điề Luậ iao hông đường bộ nă 2 08. Do đó h n h i phạ t i của bị c o vi phạ tìn t ết đị h khu g nên bị xé xử ở điể b kho ả 2 iề 260 B luật ì h sự ăm 01 , đư c sử đ i, ổ sun năm 201 .

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc và là lao động chính trong gia đình. Do đó bị cáo được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về áp dụng hình phạt

Xét thấy, hành vi chủ quan, thiếu ý thức khi tham gia giao thông, vi phạm quy tắc an toàn giao thông của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây hậu quả lớn dẫn đến chết người. Trong giai đoạn hiện nay, phương tiện giao thông gia tăng nhiều về số lượng, chủng loại và số vụ tại nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng ngày càng nhiều. Do đó mỗi người khi tham gia giao thông phải có ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định để đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của bản thân cũng như người khác. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo lẽ ra cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm, tương ứng với tính chất mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện, tuy nhiên bị hại đã chết là vợ của bị cáo, bị cáo là lao động chính và là người trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hiện có việc làm ổn định, hình phạt tù không quá 03 năm, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu cho cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà vẫn có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội. Vì vậy, thiết nghĩ nên áp dụng hình phạt có điều kiện cho bị cáo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo cơ hội hòa nhập cộng đồng, làm lại cuộc đời, chăm sóc con nhỏ.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là bà Vươl và Công ty InT không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Ngày 23/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả xe mô tô, nhãn hiệu Honda Airblade, biển số 83V1-011.98 cho bà Vươl.

Ngày 18/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 51C-209.92 cho Công ty InT.

Là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp:

- Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/LCCT-TA ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát

Đối với hành vi sử dụng nồng độ cồn trong khi lái xe của Trần Thành Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã chuyển hồ sơ đến Đội Cảnh sát giao thông Công an thị xã Bến Cát xử lý theo quy định là đúng định pháp luật HĐXX không xem xét giải quyết.

[9 Xét lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018); khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo KL phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo KL mức án 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao

bị

cáo KL cho Ủy ban nhân dân phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương qu ản ý, g ám s t, g áo d c t ong t ời gi n th thá h.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp trong thời gian thử thách, bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi l àm việc sẽ được giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010 để iám s t, gi o dục bị c o.

3. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

5. Về biện pháp tư pháp:

- Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/LCCT-TA ngày 21/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát

6. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo KL phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Những người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ